vanban.org

Bản án 71/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn chị Trần Thị Thúy H về “Ly hôn” đối với bị đơn anh Lê Hữu L.

Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Trần Thị Thúy H và anh Lê Hữu L. Về con: Giao 02 con chung có họ và tên là Lê Hữu T, sinh ngày 24/7/2007 và Lê Thủy Mai L, sinh ngày 21/10/2012 cho chị Trần Thị Thúy H trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cho đến tuổi thành niên. Chị Trần Thị Thúy H đủ điều kiện nu… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị H khoi kien ly hon anh L"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn chị Trần Thị Thúy H về “Ly hôn” đối với bị đơn anh Lê Hữu L.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ B
TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 71/2022/HNGĐ-ST
Ngày 26/9/2022.
V/v: Ly hôn giữa chị Trần Thị Thúy H
và anh Lê Hữu L.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B, TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Đức Công.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Xuân Tỵ và bà Phạm Thị Tư.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Văn Dự là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thùy Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 262/2022/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 6 năm 2022, về “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 71/2022/QĐXX-ST ngày 26 tháng 8 năm 2022, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Trần Thị Thúy H, sinh năm 1987

Địa chỉ: Số nhà 268/89/4 B, phường 1, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

2. Bị đơn: Anh Lê Hữu L, sinh năm 1985

Địa chỉ: Số nhà 268/89/4 B, phường 1, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện đề ngày 09/5/2022, các lời khai trong qúa trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Trần Thị Thúy H trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân:

Chị và anh Lê Hữu L kết hôn với nhau vào ngày 22/02/2007, có đăng ký kết hôn tại UBND phường 2, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng, hôn nhân tự nguyện, không ai bị ép buộc, có tổ chức đám cưới. Trước khi kết hôn có thời gian tìm hiểu được 03 năm. Quá trình sống chung cho đến nay, vợ chồng sống hạnh phúc được 03 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng thường xuyên bất đồng quan điểm sống, anh L hằng ngày uống rượu say về quậy phá gia đình, vợ chồng không có tiếng nói chung, nhiều lần hòa giải với nhau nhưng không được. Từ năm 2020 cho đến nay vợ chồng sống ly thân, mạnh ai người đó sống, không ai còn quan tâm đến nhau nữa. Tình cảm của chị với anh L không còn, hôn nhân không hạnh phúc, chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh Lê Hữu L.

- Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung, có họ và tên là Lê Hữu T, sinh ngày 24/7/2007 và Lê Thủy Mai L, sinh ngày 21/10/2012. Hiện tại 02 con đang ở với chị. Khi ly hôn nguyện vọng của chị xin nuôi hết 02 con, chị đủ điều kiện nuôi con nên không yêu cầu anh L cấp dưỡng.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng tại phiên tòa:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án như sau: Thực hiện đúng trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng dân sự quy định, Viện kiểm sát không kiến nghị gì.

Về giải quyết vụ án: Căn cứ Điều 147, 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự. Áp dụng Điều 51, 56, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về … án phí và lệ phí Tòa án. Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn chị Trần Thị Thúy H về ly hôn đối với bị đơn anh Lê Hữu L. Về con chung: Có 02 con chung có họ và tên là Lê Hữu T, sinh ngày 24/7/2007 và Lê Thủy Mai L, sinh ngày 21/10/2012. Nguyện vọng của cháu T và cháu T được ở với mẹ, vì vậy giao 02 chung cho chị H nuôi dưỡng, giáo dục cho đến tuổi thành niên là phù hợp, chị H đủ điều kiện nuôi con không yêu cầu anh L cấp dưỡng nên không xem xét. Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không xem xét. Về án phí: Chị Trần Thị Thúy H án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:

Về pháp luật tố tụng:

1.1. Chị Trần Thị Thúy H và anh Lê Hữu L kết hôn với nhau vào ngày 22/02/2007, có đăng ký kết hôn tại UBND Phường 2, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng, theo giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số: 33, quyển số 02. Chị H yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn đối với anh Lê Hữu L. Căn cứ khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự, xác định quan hệ tranh chấp về: “Ly hôn”.

1.2. Bị đơn anh Lê Hữu L, ở địa chỉ: Số nhà 268/89/4 B, phường 1, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Căn cứ khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng thụ lý, giải quyết theo thủ tục sơ thẩm.

1.3. Nguyên đơn chị Trần Thị Thúy H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Lê Hữu L có hành vi chống đối, không hợp tác với Tòa án để giải quyết vụ án. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do và không thuộc trường hợp sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ vào Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đương sự.

Về nội dung tranh chấp:

2.1. Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ vợ chồng giữa chị Trần Thị Thúy H và anh Lê Hữu L xác lập trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn là quan hệ hôn nhân hợp pháp.

Quá trình sống chung theo chị Trần Thị Thúy H xác định: Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng thường xuyên bất đồng quan điểm sống, anh L hằng ngày uống rượu say về quậy phá gia đình, vợ chồng không có tiếng nói chung, nhiều lần hòa giải với nhau nhưng không được. Từ năm 2020 cho đến nay vợ chồng sống ly thân, mạnh ai người đó sống, không ai còn quan tâm đến nhau nữa, tình cảm của chị H đối với anh L không còn.

Tại văn bản xác minh ghi ngày 26/8/2022 đối với ông Lê Việt Q là Ttổ trưởng tổ dân phố 3, phường 1, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng, có nội dung: Về tình trạng hôn nhân giữa chị H và anh L thì địa phương không nắm bắt được. Anh Lê Hữu L, sinh năm 1985 có đăng ký thường trú và cư trú tại Tổ 3, Phường 1, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng.

Tại Văn bản ngày 06/7/2022 đối với anh Trần Đình N, sinh năm 1992 có mối quan hệ với chị H là em ruột và với anh L là em vợ, có nội dung: Chị H và anh L có nhiều mâu thuẫn trong cuộc sống, anh L sống chung với gia đình bố mẹ bên vợ nhưng thường xuyên uống rượu say về chửi bới vợ con, đập phá đồ đạc trong nhà, chửi bới cha mẹ vợ, hăm dọa đòi đánh các anh rể khác. Chị H và anh L đã sống ly thân từ năm 2020 cho đến nay và hiện tại anh L đang sống chung với người phụ nữ khác. Anh N đề nghị Tòa án giải quyết cho chị H và anh L được ly hôn.

Xét hôn nhân giữa chị Trần Thị Thúy H và anh Lê Hữu L lâm vào trầm trọng, đời sống chung không có, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng chị H, anh L đã sống ly thân từ năm 2020 cho đến nay nhưng cả hai không có giải pháp đoàn tụ gia đình. Vì vậy, áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, xử cho chị Trần Thị Thúy H và anh Lê Hữu L được ly hôn.

2.2. Về con: Vợ chồng chị H, anh L có 02 con chung, có họ và tên là Lê Hữu T, sinh ngày 24/7/2007 và Lê Thủy Mai L, sinh ngày 21/10/2012. Tham khảo ý kiến của cháu T, cháu L đều có nguyện vọng được ở với mẹ là chị H. Vì vậy giao 02 con chung cho chị H nuôi dưỡng, giáo dục cho đến tuổi thành niên là phù hợp. Chị H đủ điều kiện nuôi con, không yêu cầu anh L cấp dưỡng nên không xem xét.

2.3. Về tài sản chung, nợ chung: Chị H trình bày không có nên không xem xét.

Từ những phân tích, căn cứ pháp luật nêu trên, kết luận: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn chị Trần Thị Thúy H về “Ly hôn” đối với bị đơn anh Lê Hữu L.

Xét ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng tại phiên tòa về việc tuân theo pháp luật tố tụng và việc giải quyết vụ án là có căn cứ chấp nhận.

Về án phí: Chị Trần Thị Thúy H phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 144, 147, 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Áp dụng Điều 51, 56, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội qui định về …án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn chị Trần Thị Thúy H về “Ly hôn” đối với bị đơn anh Lê Hữu L.

2. Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Trần Thị Thúy H và anh Lê Hữu L.

3. Về con: Giao 02 con chung có họ và tên là Lê Hữu T, sinh ngày 24/7/2007 và Lê Thủy Mai L, sinh ngày 21/10/2012 cho chị Trần Thị Thúy H trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cho đến tuổi thành niên. Chị Trần Thị Thúy H đủ điều kiện nuôi con nên không yêu cầu anh Lê Hữu L cấp dưỡng.

Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con; thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn và khi có lý do chính đáng thì mức cấp dưỡng có thể thay đổi sẽ được thực hiện theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.

4. Về án phí: Chị Trần Thị Thúy H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm (ly hôn) là 300.000đ (ba trăm ngàn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 0005113 ngày 06/6/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Chị Trần Thị Thúy H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ