- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
- Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 71/2022/HNGĐ-ST Ngày: 21 - 4 - 2022 V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Phước Sang
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Ly
2. Ông Nguyễn Văn Trí
- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Bá Thi - Thư ký Tòa án nhân dân huyện
Chợ Mới, tỉnh An Giang
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới tham gia phiên tòa:
Ông Hồ Thanh Hiền - Kiểm sát viên
Trong ngày 21 tháng 4 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ
Mới, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 41/2022/TLST-
HNGĐ ngày 12 tháng 01 năm 2022 về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”
theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 101/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 11
tháng 3 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 102/2022/QĐST-HNGĐ
ngày 31 tháng 3 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An
Giang, giữa:
1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thúy H, sinh năm 1980
Địa chỉ: Số 228, T8, ấp TH, xã MH, huyện CM, tỉnh An Giang (có mặt)
2. Bị đơn: Anh Võ Văn Đ, sinh năm 1980
Địa chỉ: Ấp TH, xã MH, huyện CM, tỉnh An Giang (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên
đơn chị Nguyễn Thị Thúy H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị H và anh Đ tự tìm hiểu và tiến tới hôn nhân
vào năm 2007, có đăng ký kết hôn vào ngày 11/6/2012 tại Ủy ban nhân dân xã
MH, huyện CM, tỉnh An Giang. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống đến đầu năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn, lý do phát sinh mâu thuẫn vì anh Đ sống gia trưởng, mọi chuyện trong gia đình đều do anh Đ quyết định mà không có bàn bạc với chị H. Ngoài ra, còn có 02 lần anh Đ mượn nợ người khác nhưng anh Đ không có bàn bạc với chị H. Vợ chồng sống ly thân từ năm 2019 cho đến nay, trong thời gian vợ chồng sống ly thân thì gia đình hai bên cũng có động viên, hàn gắn tình cảm cho Chị H và anh Đ nhưng không thành, bản thân Chị H và anh Đ cũng không có thiện chí để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Đến đầu năm 2021, chị H có nộp đơn yêu cầu xin ly hôn với anh Đ và đã được Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới thụ lý giải quyết nhưng do anh Đ năn nỉ và hứa sẽ sửa đổi tính tình nên chị H mới rút đơn khởi kiện để cho vợ chồng thêm một cơ hội đoàn tụ. Tuy nhiên, anh Đ vẫn không thay đổi tính tình nên vợ chồng tiếp tục phát sinh mâu thuẫn. Nhận thấy mâu thuẫn của vợ chồng đã quá trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, đời sống hôn nhân không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị H yêu cầu xin ly hôn với anh Võ Văn Đ.
Về con chung: Chị H và anh Đ có 01 con chung tên Võ Nguyễn Gia B,
sinh ngày 16/8/2008, hiện nay đang sống chung với anh Đ. Khi ly hôn, chị H đồng ý để anh Đ được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Chị H không cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Võ Văn Đ trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Thống nhất với lời trình bày của chị H về diễn biến
quan hệ hôn nhân giữa anh Đ và chị H. Tuy nhiên, nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn giữa anh Đ và chị H là về mặt tiền bạc trong gia đình. Anh Võ Văn Đ không đồng ý ly hôn với chị H vì tình cảm vợ chồng vẫn còn và mong muốn tiếp tục cùng chị H chăm sóc, nuôi dạy con chung.
Về con chung: Thống nhất với lời trình bày của chị H. Trường hợp Tóa án
giải quyết quan hệ hôn nhân giữa anh Đ và chị H thì anh Đ yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên Võ Nguyễn Gia B, không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa,
Chị Nguyễn Thị Thúy H vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Yêu cầu được
ly hôn với anh Võ Văn Đ. Về con chung, đồng ý để anh Đ được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên Võ Nguyễn Gia B, sinh ngày 16/8/2008; chị H không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn giữa Chị H và anh Đ là do anh Đ sống gia trưởng, mọi chuyện trong gia đình đều do anh Đ quyết định, anh Đ gây nợ nằn mà không có bàn bạc với chị H; trong đời sống, anh Đ ít quan tâm đến vợ, con và còn có hành vi đánh đập chị H.
Anh Võ Văn Đ vắng mặt nên không ghi nhận được ý kiến.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:
Việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án dân sự ở giai
đoạn sơ thẩm: Người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng đã làm đúng
quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung vụ án:
Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Thúy H đối với anh Võ
Văn Đ. Anh Võ Văn Đ được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên Võ
Nguyễn Gia B, sinh ngày 16/8/2008; chị Nguyễn Thị Thúy H không phải cấp
dưỡng nuôi con chung. Đối với tài sản chung, nợ chung không yêu cầu Tòa án giải
quyết nên không đề cập đến.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại
phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Chị Nguyễn Thị Thúy H khởi kiện yêu cầu được ly hôn đối với anh
Võ Văn Đ là tranh chấp về hôn nhân và gia đình. Đồng thời, anh Võ Văn Đ (bị
đơn) có nơi cư trú tại Ấp TH, xã MH, huyện CM, tỉnh An Giang nên Tòa án
nhân dân huyện Chợ Mới thụ lý giải quyết là đúng theo quy định tại khoản 1
Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân
sự năm 2015.
Tại phiên tòa, anh Võ Văn Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ
02 để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do chính đáng. Căn cứ
điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét
xử vắng mặt anh Võ Văn Đ.
Về nội dung vụ án:
Đối với quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thúy H và anh Võ Văn
Đ kết hôn năm 2007 trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân
dân xã MH, huyện CM, tỉnh An Giang ngày 11/6/2012 theo quy định tại Điều 9
Luật hôn nhân và gia đình, là hôn nhân hợp pháp nên được pháp luật thừa nhận
và bảo vệ. Theo lời trình bày của chị Nguyễn Thị Thúy H, vợ chồng chung sống
đến đầu năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn do anh Đ sống gia trưởng, mọi
chuyện trong gia đình đều do anh Đ quyết định, anh Đ gây nợ nằn mà không có
bàn bạc với chị H; trong đời sống, anh Đ ít quan tâm đến vợ, con và còn có hành
vi đánh đập chị H nên vợ chồng sống ly thân từ năm 2019 cho đến nay; đến năm
2021, chị H có nộp đơn yêu cầu xin ly hôn với anh Đ nhưng do anh Đ hứa sẽ
sửa đổi tính tình nên chị H mới rút đơn khởi kiện để cho vợ chồng thêm một cơ
hội đoàn tụ nhưng anh Đ không chịu sửa đổi tính tình nên mâu thuẫn vợ chồng
tiếp tục trầm trọng hơn. Tại Biên bản đối chất ngày 16/02/2022, anh Đ thừa
nhận nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn giữa anh Đ và chị H là do anh Đ sống
gia trưởng và có đe dọa gây thương tích cho chị H; hiện nay anh Đ còn thương vợ nên không đồng ý ly hôn với chị H. Xét thấy, mâu thuẫn giữa anh Đ, chị H phát sinh gay gắt từ năm 2019 nên anh Đ, chị H sống ly thân từ năm 2019 cho đến nay, trong thời gian vợ chồng sống ly thân, gia đình 02 bên có động viên, hàn gắn tình cảm vợ chồng cho chị H, anh Đ nhưng không thành vì anh Đ không sửa đổi tính tình nên mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng thêm. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành hòa giải, hàn gắn tình cảm vợ chồng cho Chị H và anh Đ nhưng không hòa giải được. Mặt khác, anh Đ trình bày còn thương vợ nhưng không có biện pháp tích cực nào để hàn gắn tình cảm vợ chồng giữa anh Đ, chị H và vắng mặt không có lý do chính đáng trong 02 lần mở phiên tòa xét xử vụ án, thể hiện anh Đ cũng không còn thiện chí níu kéo quan hệ hôn nhân giữa Chị H và anh Đ. Do đó, có đủ căn cứ xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa Chị H và anh Đ đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài, việc chị H yêu cầu ly hôn anh Đ phù hợp với khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình nên có cơ sở chấp nhận.
Đối với con chung: Chị Nguyễn Thị Thúy H và anh Võ Văn Đ xác
định vợ chồng có 01 con chung tên Võ Nguyễn Gia B, sinh ngày 16/8/2008, hiện nay đang sống với với anh Võ Văn Đ. Khi ly hôn, Chị H và anh Đ thống nhất để cháu Võ Nguyễn Gia B cho anh Đ được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng. Xét thấy, việc giao con chung chưa thành niên cho người chăm sóc, nuôi dưỡng khi ly hôn phải đảm bảo điều kiện phát triển tốt nhất cho con cả về vật chất lẫn tinh thần. Cháu Võ Nguyễn Gia B đang sống với anh Đ từ thời điểm vợ chồng sống ly thân cho đến nay nên tình cảm của cháu đã gắn liền với người nuôi dưỡng và cháu Võ Nguyễn Gia B cũng có nguyện vọng được sống cùng anh Đ. Để ổn định cuộc sống cho cháu Võ Nguyễn Gia B, thỏa thuận của Chị H và anh Đ về việc anh Đ được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung khi ly hôn phù hợp với khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình nên được chấp nhận.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh Võ Văn Đ là người trực tiếp
chăm sóc, nuôi dưỡng con chung sau khi ly hôn nên chị Nguyễn Thị Thúy H phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định tại khoản 2 Điều 82, Điều 110, Điều 116 và Điều 117 Luật hôn nhân và gia đình. Tuy nhiên, anh Võ Văn Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét. Trường hợp sau này có tranh chấp sẽ được giải quyết bằng một vụ án dân sự khác.
Đối với tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án
giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét. Trường hợp sau này có tranh chấp sẽ được giải quyết bằng một vụ án dân sự khác.
Về án phí và quyền kháng cáo:
Chị Nguyễn Thị Thúy H phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia
đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Các đương sự được quyền kháng cáo Bản án theo quy định tại Điều 271
và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
Điều 28, 35, 39, 147, 227, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị
Thúy H.
[1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thúy H được ly hôn anh Võ
Văn Đ.
Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 117, ngày 11/6/2012 do Ủy ban nhân
dân xã MH, huyện CM, tỉnh An Giang cấp cho chị Nguyễn Thị Thúy H và anh
Võ Văn Đ không còn giá trị pháp lý.
[2] Về con chung:
Anh Võ Văn Đ được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên Võ
Nguyễn Gia B, sinh ngày 16/8/2008, hiện đang sống chung với anh Võ Văn Đ.
Chị Nguyễn Thị Thúy H không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Anh Võ Văn Đ cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở
chị Nguyễn Thị Thúy H trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục
con chung.
Vì lợi ích của con chung, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ
quan có thẩm quyền, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con,
buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
[3] Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[4] Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Thúy H phải chịu 300.000
(ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền
tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm nghìn) đồng đã nộp theo Biên lai số 0010030
ngày 11/01/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Chợ Mới.
[6] Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền
kháng cáo Bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự
vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười
lăm) ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy
định của pháp luật.
[7] Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh An Giang; - VKSND tỉnh An Giang; - VKSND huyện Chợ Mới; - Chi cục THADS huyện Chợ Mới; - Đương sự; - UBND xã MH, huyện CM, tỉnh An Giang; - Văn phòng; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Phước Sang |