- Tranh chấp gì? án hình sự — "tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố Cao Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN TRƯỜNG TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:71 /2021/HS - ST Ngày: 21 – 12 - 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN TRƯỜNG, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Ngọc Quỳnh
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Vũ Xuân Thùy
Ông Trần Văn Quân
- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Kim Cúc – Thư ký Toà án nhân dân huyện Xuân Trường.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường tham gia phiên toà: ông Ngô Văn Thành - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 12 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 68/2021/TLST-HS ngày 12 tháng 11 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 70/2021/QĐXXST – HS, ngày 09 tháng 12 năm 2021 đối với bị cáo:
Cao Văn T, sinh ngày 02/12/1996
Nơi cư trú: tổ dân phố L, thị trấn Q, huyện G, tỉnh Nam Định. Nghề nghiệp: Lao động tự do.Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: kinh; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Cao văn T1, sinh năm 1975 con bà Bùi Thị B, sinh năm 1977;.Tiền án: Không có; Tiền sự: Không có. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 23/7/2021 đến 29/7/2021 chuyển tạm giam. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khỏang 14 giờ ngày 23/7/2021 Cao Văn T đi xe máy BKS 18Z6-9894 từ tổ dân phố L, thị trấn Q đến ngã tư đèn xanh đèn đỏ tổ 18, thị trấn Xuân Trường tìm mua ma túy đá dùng cho bản thân. Tại đây qua dò hỏi T gặp một nam thanh niên không biết tên và địa chỉ hỏi mua 700.000đ ma túy đá. Sau khi nhận tiền, nam thanh niên đưa cho T túi ni lon trong suốt chưa chất tinh thể màu trắng. T xác định đúng là ma túy đá cầm bỏ vào vỏ bao thuốc lá VINATABA nhặt được ở ven đường rồi đi về. Khoảng 15 giờ 40 T về đến tổ dân phố số 2 thị trấn Xuân Trường thì bị tổ công tác PC04 Công an tỉnh Nam Định nghi vấn kiểm tra. T tự giác khai báo và giao nộp ma túy đá trong vỏ bao thuốc lá. Tổ công tác mời người chứng kiến, niêm phong tang vật ký hiệu A. Thu của T 01 điện thoại di động nhãn Oppo màu đỏ và xe máy BKS 18Z6-9894. Cơ quan điều tra khám nhà T không thu giữ thêm gì.
Theo bản kết luận giám định số 1034/GĐKTHS ngày 26/7/2021 của Phòng KTHS Công an tỉnh Nam Định kết luận: Mẫu chất rắn dạng tinh thể màu trắng trong túi ni lon niêm phong ký hiệu A gửi giám định là ma túy. Loại ma túy: Methamphetamine. Khối lượng mẫu A là: 0,988 gam.
Cáo trạng số 69/CT-VKS ngày 11/11/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định truy tố Cao Văn T về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 điều 249 BLHS.
Tại phiên toà, Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố như bản cáo trạng và đề nghị tuyên bố Cao Văn T phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy. Căn cứ điểm c khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt Cao Văn T từ 02 năm 03 tháng đến 02 năm 06 tháng tù. Miễn hình phạt tiền bổ sung đối với T. Căn cứ điểm c khoản 1 điều 47 BLHS và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu cho tiêu hủy phong bì thư hoàn trả mẫu vật sau giám định và vỏ bao thuốc lá VINATABA; Trả lại bị cáo chiếc điện thoại OPPO vỏ màu đỏ.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến gì thêm đối với quyết định truy tố và bản luận tội của Viện kiểm sát. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo vì bị cáo đã nhận thức rõ sai phạm của bản thân.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Xuân Trường, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên toà bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo tại phiên toà là hoàn toàn phù hợp với các chứng cứ khác như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 15 giờ 40 ngày 23/7/2021 Kết luận giám định số 1034/GĐKTHS ngày 26/7/2021 của Phòng KTHS Công an tỉnh Nam Định. Lời khai của người chứng kiến. Từ các chứng cứ trên đã đủ căn cứ kết luận: Khoảng 15 giờ 40 phút ngày 23/7/2021 Cao Văn T đã có hành vi tàng trữ trong người 0,988 gam Methamphetamine. Hành vi phạm tội của bị cáo đã cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm hại tới quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, ảnh hưởng đến trật tự công cộng, chính sách phòng, chống tệ nạn ma túy mà Đảng và Nhà nước, nhân dân đang thực hiện quyết liệt cho nên cần nghiêm khắc phê phán và trừng trị thích đáng
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: tại Cơ quan Điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn; Do vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.
Qua đánh giá tính chất mức độ nghiêm trọng của hành vi, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử thấy cần xử phạt tù với mức án nghiêm, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để bị cáo cải tạo mình thành công dân có ích cho xã hội.
Tang vật của vụ án: Tịch thu cho tiêu hủy phong bì thư đã được hoàn trả sau giám định và vỏ bao thuốc lá VINATABA đã qua sử dụng; Trả lại bị cáo chiếc điện thoại OPPO màu đỏ có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng tại thi hành án dân sự huyện Xuân Trường. Chiếc xe máy thu giữ Công an huyện tách ra điều tra chủ sở hữu giải quyết sau là phù hợp nên Hội đồng xét xử không xem xét
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự:
- Tuyên bố Cao Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Xử phạt Cao Văn T 02 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 23/7/2021.
2. Căn cứ điểm c khoản 1 điều 47 BLHS và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu cho tiêu hủy phong bì thư đã được hoàn trả sau giám định và vỏ bao thuốc lá VINATABA đã qua sử dụng; Trả lại bị cáo chiếc điện thoại OPPO vỏ màu đỏ(Chi tiết có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng tại thi hành án dân sự huyện Xuân Trường ngày 29/11/2021 )
3. Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Báo cho bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Nam Định; - VKSND tỉnh+huyện; - Chi cục THADS huyện Xuân Trường; - Công an huyện Xuân Trường; - UBND TT Q; - Bị cáo; - Lưu HS+VP. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Phạm Ngọc Quỳnh |