- Tranh chấp gì? án hình sự — "tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn C và bị cáo Nguyễn Văn Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HÒA –TP HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 71/2021/HS-ST Ngày: 28/9/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HÒA – TP HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Thanh Minh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hạ Tuấn và ông Đặng Viết Côi
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hång – Thư ký Tòa án nhân dân
huyện Ứng Hoà, thành phố Hà Nội.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hòa tham gia phiên toà:
Ông Nguyễn Văn Vũ -Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 9 năm 2021 tại Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa, TP. Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 70/2021/TLST-HS ngày 14 tháng 9 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 65/2021/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 9 năm 2021 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn C; sinh năm 1996; giới tính: nam; HKTT và nơi ở: thôn OL, xã CD, huyện LS, tỉnh Hòa Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; dân tộc: Mường; con ông: Nguyễn Văn P (Đã chết); con bà: Nguyễn Thị H– sinh năm: 1976; vợ con chưa có; tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 21/02/2021 đến ngày 02/3/2021, được hủy bỏ biện pháp ngăn chặn tạm giữ, áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Ngày 26/6/2021, bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội mới, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Ứng Hòa theo Quyết định gia hạn tạm giam lần thứ nhất số 07 ngày 24/8/2021 của Công an huyện Ứng Hòa; thời hạn 01 tháng, từ ngày 26/8/2021 đến ngày 24/9/2021. Có mặt t¹i phiªn tßa.
Nguyễn Văn Q; sinh năm: 1985; giới tính: Nam; HKTT và nơi ở: thôn OL, xã CD, huyện LS, tỉnh Hòa Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 05/12; Quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; Dân tộc: Mường; con ông: Nguyễn Văn B; con bà Nguyễn Thị V (Đều đã chết).Vợ: Nguyễn Thị B – sinh năm: 1983; có 02 con (Lớn sinh năm: 2004; nhỏ sinh năm: 2008). Tiền án: Không.
Tiền sự: Ngày 08/10/2020, bị Công an huyện Ứng Hòa, TP. Hà Nội bắt và xử phạt hành chính 1.500.000 đồng về hành vi “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”Q chưa nộp phạt.
Nhân thân:
- Ngày 09/11/2003, bị công an quận Cầu Giấy, TP. Hà Nội bắt và xử phạt hành chính 200.000 đồng về hành vi “ Cố ý gây thương tích”, đã được xóa án tích.
- Ngày 08/12/2011, bị Tòa án nhân dân huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắt tài sản”. Đã được xóa án tích.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 21/02/2021 đến ngày 02/3/2021 được hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, áp dụng biện pháp: Lệnh cấm đi khởi nơi cư trú. Ngày 07/7/2021, Bị cáo phạm tội mới, hiện đang bị tạm giam theo Lệnh bắt bị can để tạm giam số 03 ngày 08/7/2021, thời hạn 02 tháng 21 ngày, từ ngày 08/7/2021 đến ngày 28/9/2021, tại nhà Tạm giữ công an huyện Ứng Hòa, TP. Hà Nội.
* Người bào chữa cho bị cáo Q: ông Nguyễn Ngọc Cường – Trợ giúp viên pháp lý – Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước TP. Hà Nội (Có mặt)
*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Ông Nguyễn Xuân H1 – sinh năm 1963. (Vắng mặt.)
Địa chỉ: thôn PB, xã PC, huyện CM, TP. Hà Nội
* Người làm chứng: Anh Nguyễn Công H2 – sinh năm 1985 (vắng mặt)
HKTT: thôn ĐP, xã PT, huyện UH, TP. Hà Nội
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ 20 phút, ngày 21/2/2021, tại khu vực thôn ĐP, xã PT, huyện Ứng Hòa, TP. Hà Nội, tổ công tác công an xã PT kết hợp cùng tổ công tác công an xã Trung Tú làm nhiệm vụ tuần tra đã phát hiện ra Nguyễn Văn C, sinh năm: 1996, trú tại thôn OL, xã CD, huyện LS, tỉnh Hòa Bình điều khiển xe moto nhãn hiệu Wave Alpha, biển kiểm soát 33M2 – 5306 chở Nguyễn Văn Q – sinh năm: 1985, ở cùng thôn có biểu hiện nghi vấn. Tổ công tác yêu cầu dừng xe kiểm tra hành chính. Tại chỗ, Q tự nguyện giao nộp cho tổ công tác 01 gói giấy màu trắng có kích thước (1x0.5)cm, bên trong có chất bột màu trắng. Q và C đều khai nhận đó là ma túy mà Q và C góp tiền mua để cùng sử dụng. Tổ công tác tiến hành niêm phong gói ma túy, Q và C cùng chứng kiến và ký tên tại các mép niêm phong. Đồng thời, tổ công tác đưa Q và C về trụ sở để lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Cùng ngày 21/02/2021, tổ công tác bản giao hai đối tượng Nguyễn Văn Q và Nguyễn Văn C cho Công an huyện Ứng Hòa để giải quyết theo quy định.
Vật chứng thu giữ:
01 gói giấy màu trắng, kích thước (01x0.5)cm, bên trong có chứa chất bột màu trắng, niêm phong trong một phong bì thư.
- 01 xe mô tô nhãn hiệu Wave Alpha, Biển kiểm soát 33M2 – 5306, số khung: VTKBCH014UM000500; số máy: VUMHAYG150FMH000322; đã cũ. (không kiểm tra chất lượng, tình trạng bên trong).
Ngày 21/02/2021, Cơ quan CSĐT – Công an huyện Ứng Hòa Quyết định trưng cầu giám định số 54 ®èi víi 01 gãi ma tóy trªn. KÕt qu¶ tại bản kết luận giám định số 1750/KLGĐ-PC09 ngày 02/3/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an TP Hà Nội kết luận: Chất bột màu trắng bên trong 01 gói giấy màu trắng là ma túy heroin, khối lượng 0.139 gam.
Ngày 22/02/2021, Cơ quan CSĐT – công an huyện Ứng Hòa đã ra lệnh khám xét khẩn cấp nơi ở, đồ vật của Nguyễn Văn C và Nguyễn Văn Q tại thôn OL, xã CD, huyện LS, tỉnh Hòa Bình. Kết quả: Không thu giữ vật chứng gì.
Với hành vi nêu trên, tại bản Cáo trạng số: 65/CT-VKS ngày 14 tháng 9 năm 2021 Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hòa đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn C và Nguyễn Văn Q về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bé luËt h×nh sù.
Tại phiên toà: Bị cáo đã thừa nhận hành vi như bản Cáo trạng đã nêu.
Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; BLHS. Đề nghị xử phạt: Nguyễn Văn C từ 24 tháng tï đến 30 tháng tù; thời hạn tù được tính từ ngày bắt để thi hành án, được trừ số ngày tạm giữ từ ngày 21/02/2021 đến ngày 02/3/2021.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; BLHS. Đề nghị xử phạt:Nguyễn Văn Q từ 30 tháng tù đến 36 tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày tạm giam 08/7/2021, được trừ số ngày tạm giữ từ ngày 21/02/2021 đến ngày 02/3/2021.
Áp dụng khoản 1 Điều 47 BLHS và Điều 106 BLTTHS: tịch thu tiêu hủy số ma túy gửi lại sau giám định; Tịch thu, phát mại, sung vào ngân sách nhà nước xe moto Wave Alpha, biển kiểm soát: 33M2 – 5306; số khung: VTKBCH014UM000500; số máy: VUMHAYG150FMH000322; đã cũ. (không kiểm tra chất lượng, tình trạng bên trong). MiÔn h×nh ph¹t bæ sung cho các bÞ c¸o; Các bị cáo phải nộp án phí theo quy định.
- Quan điểm bảo chữa của ông Nguyễn Ngọc Cường cho bị cáo Q: xem xét tính chất của vụ án, mức độ nghiêm trọng của hành vi và hoàn C gia đình của bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo Q.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại phiên toà các bị cáo nhận tội như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Xét lời nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời trình bày của người liên quan và người làm chứng; vật chứng đã thu giữ được cùng các tài liệu khác đã được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án.
Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ khẳng định: Ngµy 21/02/2021, Nguyễn Văn C và Nguyễn Văn Q đều ở thôn OL, xã CD, huyện LS, tỉnh Hòa Bình ®iÒu khiÓn xe m« t« biÓn kiÓm so¸t: 33M2 – 5306 tàng trữ 0,139 gam Ma túy loại Heroin, mục đích để sử dụng cho chung, khi đi đến địa phận xã PT, huyện Ứng Hòa thì bị Lực lượng công an kiểm tra, bắt quả tang.
Hành vi trên của các bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố các bị cáo với tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
Xét, hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Văn C và bị cáo Nguyễn Văn Q đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý và sử dụng chất ma tuý của Nhà nước, làm gia tăng tệ nạn ma tuý, ảnh hưởng đến an ninh trật tự xã hội, là nguyên nhân phát sinh các tội phạm khác. Vì vậy, cần phải có hình phạt nghiêm khắc để giáo dục các bị cáo. Xét vai trò của các bị cáo thì thấy, các bị cáo có vai trò ngang nhau, C là người đi xe máy đến nhà Q rủ Q góp tiền mua ma túy về sử dụng chung; tuy nhiên, Q có nhân thân xấu nên các bị cáo phải chịu mức hình phạt ngang nhau.
Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo:
Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, bản thân các bị cáo đều là người dân tộc nên được xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt bổ sung: các bị cáo không có việc làm ổn định, gia đình có hoàn C kinh tế khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Đối với nguồn gốc số ma túy: Ngày 21/02/2021, Q và C mua của một người đàn ông, Q và C đều không biết tên, địa chỉ cụ thể. Người này có đặc điểm khoảng 50 tuổi, cao khoảng 1.6m; người béo, đầu trọc; ngoài ra, các đặc điểm khác không nhớ rõ, việc mua ma túy diễn ra ở khu vực thôn ĐP, xã PT, huyện Ứng Hòa, TP. Hà Nội không có ai biết. Do đó, cơ quan C sát điều tra không có đủ cơ sở để xác minh làm rõ người bán ma túy cho Q và C, nên không đề cập xử lý.
Về xử lý vật chứng: Đối với chiếc xe m« t« BKS 33M2 - 5306: Quá trình điều tra đã xác định là chiếc xe trên đăng ký mang tên ông Nguyễn Xuân H1 – sinh năm: 1963 ở thôn Phương Bản, xã Phụng Châu, huyện Chương Mỹ, TP. Hà Nội. Năm 2009, ông H1 đã bán chiếc xe này cho một người không quen biết. Năm 2020, Nguyễn Văn C đã mua chiếc xe trên, khi mua không có giấy tờ gì. Ngày 21/02/2021, C sử dụng chiếc xe này vào làm phương tiện đi mua ma túy. Do đó, cần tịch thu, phát mại sung vào Ngân sách nhà nước là có căn cứ và đúng pháp luật tại điều 46; 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Đối với số ma túy gửi lại sau giám định cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp với quy định tại Điều 46, Điều 47 BLHS và Điều 106 BLTTHS.
Về án phí, quyền kháng cáo: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo Điều 135; khoản 2 Điều 136 BLTTHS Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 333BLTTHS năm 2015.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 46, 47 của BLHS; Căn cứ Điều 106; Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331 và Điều 333 của BLTTHS.
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn C và bị cáo Nguyễn Văn Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Xử phạt Nguyễn Văn C 18 (Mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày thi hành án, được trừ ngày tạm giữ từ ngày 21/02/2021 đến ngày 02/3/2021;
Xử phạt Nguyễn Văn Q 20 (Hai mươi) tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày tạm giam 08/7/2021, được trừ ngày tạm giữ từ ngày 21/02/2021 đến ngày 02/3/2021.
3. Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì có chứa ma túy đã niêm phong gửi lại sau giám định có chữ ký của Nguyễn Văn C và Nguyễn Văn Q; giám định viên Lê Khắc Nam, cán bộ Nguyễn Mạnh Cường và dấu của Cơ quan Công an huyện Ứng Hòa tại các mép niêm phong.
- Tịch thu, phát mại sung vào Ngân sách Nhà nước xe moto Wave alpha, biển kiểm soát: 33M2 - 5306; số khung: VTKBCH014UM000500; số máy: VUMHAYG150FMH000322; đã cũ. (không kiểm tra chất lượng, tình trạng bên trong).
(Tình trạng như biên bản giao, nhận vật chứng giữa Công an và Chi cục thi hành án dân sự huyện Ứng Hoà ngày 23/9/2021)
4. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn C và bị cáo Nguyễn Văn Q, mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: các bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày bản án được niêm yết, tống đạt hợp lệ. Người có quyền lợi liên quan được kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình.
| Nơi nhận: - TAND TP Hà Nội; - VKSND huyện Ứng Hoà; - Công an huyện Ứng Hòa; - Chi cục THADS Ứng Hoà; - UBND xã nơi bị cáo ĐKTT; - Bị cáo; - Các đương sự; - Lưu hs; V/P./. CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Bùi Thanh Minh THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |