- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Phạm Thành N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một…"
- Tòa quyết gì? 1 Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Thành N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM BÌNH TỈNH VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 71/2021/HS-ST Ngày 22 – 12 – 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM BÌNH, TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thanh Thảo
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Hoàng Tiến
2. Ông Phan Kiên Nhẫn
- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Kim Huyền – Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Lộc – Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 12 năm 2021 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tam Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 62/2021/TLST-HS ngày 15 tháng 11 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 72/2021/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 12 năm 2021 đối với bị cáo:
Phạm Thành N, sinh năm 2000 tại huyện TB, tỉnh Vĩnh Long. Nơi cư trú: ấp PT, xã TP, huyện TB, tỉnh Vĩnh Long; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn N1 và bà Mai Thị L.
Tiền án: Không.
Tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt quả tang ngày 13/8/2021, tạm giữ tạm giam đến nay và có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Nguyễn Minh H, sinh năm 1999 (vắng mặt)
Nơi cư trú: ấp ĐL, xã ĐB, thị xã BM, tỉnh Vĩnh Long.
- Người chứng kiến: Anh Trương Thanh P, sinh năm 2000 (vắng mặt)
Nơi cư trú: ấp PSA, xã LP, huyện TB, tỉnh Vĩnh Long.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 09 giờ 10 phút ngày 13/8/2021, trên đường tỉnh 905 thuộc ấp Phú Sơn A, xã LP, huyện TB, tỉnh Vĩnh Long, Công an huyện Tam Bình kết hợp với Công an xã LP đang thực hiện nhiệm vụ tại chốt kiểm soát phòng chống dịch Covid-19 thì phát hiện Phạm Thành N điều khiển xe mô tô biển số 83S1-9193 đang lưu thông hướng từ đầu lộ 16 về thị trấn TB. Lực lượng công an tiến hành dừng phương tiện kiểm tra thì phát hiện Phạm Thành N có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy (cất giấu trong túi quần Jean phía sau bên trái của N đang mặc) nên lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Tang vật thu giữ gồm:
- 01 (một) bịch ny lon trong suốt được hàn kín, bên trong có chứa tinh thể rắn màu trắng nghi là chất ma túy được niêm phong trong phong bì đánh số (1);
- 01 (một) giấy chứng minh nhân dân mang tên Phạm Thành N cấp ngày 21/4/2016;
- 01 (một) xe mô tô biển số 83S1-9193;
- 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 83S1-9193;
- 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo màu hồng, bị bể kính màn hình (đã qua sử dụng).
Tại kết luận giám định số 422/KLGĐ-PC09 ngày 15/8/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Long kết luận: Mẫu tinh thể rắn màu trắng bên trong 01 bịch nylon được niêm phong trong phong bì (đánh số 1) gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 0,1623 gam, loại Methamphetamine.
Qua làm việc, bị cáo Phạm Thành N thừa nhận: Vào khoảng tháng 6/2021, N đã nhờ một đối tượng (không rõ tên, tuổi, địa chỉ) mua số ma túy trên với số tiền 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) để tàng trữ, sử dụng cho bản thân. N để ma túy trên trong túi quần Jean cho đến ngày 13/8/2021 thì bị Công an bắt quả tang.
Đối với xe mô tô biển số 83S1-9193 là xe của Phạm Thành N mua lại từ anh Nguyễn Minh H vào khoảng tháng 3/2021 với số tiền 9.000.000 đồng (Chín triệu đồng) nhưng không làm thủ tục sang tên. Qua xác minh phương tiện xe mô tô biển số 83S1-9193 do Ngô Đức T, ngụ xã TTT, huyện MX, tỉnh Sóc Trăng đứng tên giấy đăng ký. Qua tra cứu cơ sở dữ liệu vật chứng trong các vụ án hình sự thì xe trên không phải vật chứng của vụ án.
Xử lý vật chứng:
Ngày 29/10/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tam Bình đã trả lại cho Phạm Thành N: 01 (một) giấy chứng minh nhân dân mang tên Phạm Thành N, 01 (một) xe mô tô biển số 83S1-9193, 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 83S1-9193, 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo màu hồng, bị bể kính màn hình (đã qua sử dụng).
Chuyển vật chứng sau đây đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tam Bình để tiếp tục quản lý gồm: Mẫu tinh thể rắn màu trắng còn lại sau giám định, khối lượng 0,1154 gam và vỏ bao gói được để trong phong bì niêm phong số 422/1 ngày 15/8/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Long.
Tại Cáo trạng số: 66/CT-VKSTB ngày 15/11/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Bình đã truy tố bị cáo Phạm Thành N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Phạm Thành N thừa nhận cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Bình truy tố bị cáo là đúng hành vi, không oan, bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.
Đối với hành vi của đối tượng (không biết rõ tên, tuổi và địa chỉ) đã mua giúp chất ma túy cho Phạm Thành N có dấu hiệu của tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo Điều 249 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, quá trình điều tra Cơ quan điều tra không xác định được đối tượng nên không có cơ sở để xử lý.
Kiểm sát viên thực hành quyền công tố vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Phạm Thành N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Sau khi phân tích nguyên nhân, tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng cho bị cáo, Kiểm sát viên đề nghị:
Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Phạm Thành N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Phạm Thành N mức án từ 01 (Một) năm đến 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy vật chứng: Mẫu chất tinh thể rắn màu trắng còn lại sau giám định có khối lượng: 0,1154 gam và vỏ bao gói được để trong phong bì niêm phong số 422/1 ngày 15/8/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Long.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Tam Bình, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về nội dung vụ án:
Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người làm chứng, biên bản hỏi cung bị can, biên bản bắt người phạm tội quả tang cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa thể hiện: Vào khoảng 09 giờ 10 phút ngày 13/8/2021, trên đường tỉnh 905 thuộc ấp PSA, xã LP, huyện TB, tỉnh Vĩnh Long, Công an huyện Tam Bình kết hợp với Công an xã LP tiến hành kiểm tra, bắt quả tang Phạm Thành N đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy có khối lượng: 0,1623 gam, loại Methamphetamine. Bị cáo Phạm Thành N tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm mục đích để sử dụng.
Hành vi của bị cáo Phạm Thành N đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự như truy tố của Viện kiểm sát là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật và có căn cứ.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy. Bị cáo biết rõ việc tàng trữ chất ma túy là trái pháp luật, thấy được tác hại của việc tàng trữ, sử dụng chất ma túy nhưng bị cáo cố tình thực hiện, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Vì vậy, cần xử lý bị cáo một mức án nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt, có ích cho xã hội và ngăn chặn những trường hợp tương tự có thể xảy ra.
Xét hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo nhằm mục đích để sử dụng nên áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo là đủ, không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy vật chứng không có giá trị, vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ: Mẫu chất tinh thể rắn màu trắng còn lại sau giám định có khối lượng: 0,1154 gam và vỏ bao gói được để trong phong bì niêm phong số 422/1 ngày 15/8/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Long.
Hiện vật chứng đang quản lý tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tam Bình theo biên bản giao nhận vật chứng vụ án ngày 23/11/2021
Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Phạm Thành N phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;
1.1 Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Thành N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
1.2 Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Phạm Thành N 01 (Một) năm tù.
Thời hạn tù tính từ ngày 13/8/2021.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy: Mẫu chất tinh thể rắn màu trắng còn lại sau giám định có khối lượng: 0,1154 gam và vỏ bao gói được để trong phong bì niêm phong số 422/1 ngày 15/8/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Long.
Hiện vật chứng đang quản lý tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tam Bình theo biên bản giao nhận vật chứng vụ án ngày 23/11/2021
3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Phạm Thành N phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Vĩnh Long; - VKSND tỉnh Vĩnh Long; - Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Long; - Phòng hồ sơ – Công an tỉnh Vĩnh Long - VKSND huyện Tam Bình; - Chi cục THADS huyện Tam Bình; - CQĐT Công an huyện Tam Bình; - Nhà tạm giữ Công an huyện Tam Bình; - Bị cáo; - Những người tham gia tố tụng khác; - UBND xã TP, huyện TB, tỉnh Vĩnh Long; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Trần Thanh Thảo |