- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Minh T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự:
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH KIÊN GIANG Bản án số: 71 /2021/HS-ST Ngày: 31/5/2021 |
N/HÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC – TỈNH KIÊN GIANG
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Tâm
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Dương Tấn Đấu
2/ Ông Ngô Rạng Đông
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Yến – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố PQ, tỉnh Kiên Giang
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố PQ tham gia phiên tòa: Ông Lê Minh Dũng - Kiểm sát viên.
Trong ngày 31 tháng 5 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố PQ đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 54/2021/TLST-HS ngày 04 tháng 5 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 67/2021/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 5 năm 2021 đối với bị cáo:
Lê Minh T, sinh năm: 1981, tại: Quận Ô M – C T; Nơi cư trú: khu vực T H, phường T A, quận Ô M, thành phố C T; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 03/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Văn Bvà bà Lý Thị T; Bị cáo chưa có vợ; tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ tạm giam từ ngày 25/02/2021 (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 9 giờ 00 phút, ngày 25/02/2001, Lê Minh T đang ở nhà trọ “Đầy Đủ” thuộc ấp Đường Bào, xã Dương Tơ, Thành phố PQ, tỉnh Kiên Giang, thì người bạn tên A (chưa rõ nhân thân) gọi điện thoại rủ T mua ma túy đem về nhà nghĩ “ T H” thuộc ấp S M, xã D T, Thành phố PQ, tỉnh Kiên Giang thuê phòng sử dụng, T đồng ý. Đến khoảng 10 giờ 30 phút cùng ngày, Lê Minh T đi xe Honđa ôm của một người không biết tên đến đoạn đường Hùng Vương, thuộc khu phố 5, phường Dương Đông, Thành phố PQ, T điện thoại cho một người thanh niên tên P (chưa rõ nhân thân) hỏi mua ma túy, P đồng ý và kêu T đứng đợi có người đem ma túy đến. Khoảng 15 phút sau người thanh niên đeo khẩu trang (chưa rõ nhân thân) đem 10 bịch ma túy đến bán cho T với giá 3.400.000 đồng, trong đó có 02 bịch ma túy được bỏ trong gói thuốc lá JET và 08 bịch ma túy còn lại để bên ngoài . Sau khi mua được ma túy, T lấy gói thuốc lá JET bên trong có 02 bịch ma túy cất giấu trong túi áo khoát bên phải, 08 bịt ma túy còn lại T cất giấu trong túi quần sọt bên trái T đang mặc rồi đi Hon đa ôm xuống nhà nghĩ “ Tốt Hơn” thì bị lực lượng Cảnh sát biển 4 phối hợp với Công an xã Dương Tơ kiểm tra phát hiện T đang tàng trữ trái phép chất ma túy nên lập biên bản bắt quả tang. Ngày 27/02/2021, Bộ Tư lệnh Vùng cảnh sát biển 4 khởi tố vụ án chuyển cơ quan điều tra. Ngày 02/3/2021, Lê Minh T bị cơ quan cảnh sát điều tra- Công an Thành phố PQ khởi tố, tạm giam để điều tra.
*Tang vật thu giữ:
- 10 bịch nylon màu trắng, được hàn kín, có kích thước 3,9cm x 3,3cm; 4,3cm x 3,2cm, 3,2cm x 0,9cm; 3,2cm x 0,9cm; 3,3cm x 0,9cm; 3,9cm x 0,9cm, 04cm x 01cm; 4,3cm x 01cm; 4,5cm x 01cm bên trong các bịch có chứa các hạt tinh thể rắn màu trắng không đồng nhất.
- 01 điện thoại di động hiệu Sam Sung, màu vàng, số IMEI1: 356472094337665, đã qua sử dụng.
Tại bản Kết luận giám định số 69/KL-KTHS ngày 26/02/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang kết luận: Các hạt tinh thể rắn màu trắng không đồng nhất chứa trong 10 bịch ny long đươc niêm phong gửi giám định có tổng khối lượng là 6,7716 gam (không bao bì) là chất ma túy, loại Methamphetamine.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định số 69/KL-KTHS ngày 26/02/2021 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang.
Bản cáo trạng số 62/CT-VKSPQ ngày 04 tháng 5 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố PQ đã truy tố bị cáo Lê Minh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ Luật hình sự năm 2015.
Sau phần xét hỏi công khai tại phiên tòa, đại diện viện kiểm sát thực hành quyền công tố trình bày lời luận tội đối với bị cáo. Qua phân tích hành vi phạm tội, đánh giá tính chất vụ án, nêu các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Lê Minh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ Luật hình sự năm 2015.
Đề nghị HĐXX áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015; Xử phạt bị cáo Lê Minh T từ 05 (năm) đến 05(năm) 06 (sáu) tháng tù.
Về xử lý vật chứng: đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:
Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định là 6,7716 gam ma túy loại Methamphetamine và bao gối đã được niêm phong.
Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Sam Sung, màu vàng, số IMEI1: 356472094337665, đã qua sử dụng.
Đối với đối tượng tên Phúc và người thanh niên chưa rõ nhân thân bán ma túy cho Lê Minh T. Cơ quan cảnh sát điều tra đang tiếp tục điều tra làm rõ, khi nào bắt được xử lý sau.
Đối với người tên A chưa rõ nhân thân, Cơ quan cảnh sát điều tra đang tiếp tục điều tra làm rõ xử lý sau.
Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội đúng như cáo trạng viện kiểm sát truy tố và lời nói sau cùng, bị cáo không nói lời nói sau cùng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng:
Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, Điều tra viên, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Thành phố PQ, tỉnh Kiên Giang, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố PQ, tỉnh Kiên Giang đã tuân thủ nghiêm các quyền và nghĩa vụ của mình, thực hiện các hành vi, quyết định tố tụng đúng trình tự, thủ tục và thẩm quyền theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Người tham gia tố tụng không có khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng do đó các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Đánh giá chứng cứ: Vào khoảng 11 giờ, ngày 25/02/2021, tại sân nhà nghĩ “T H” thuộc ấp S M, xã D T, Thành phố PQ, tỉnh Kiên Giang thì bị lực lực lượng Cảnh sát biển 4 phối hợp với Công An xã Dương Tơ bắt quả tang Lê Minh T đang tàng trữ trái phép chất ma túy, T thừa nhận mua ma túy để sử dụng.
Tại bản Kết luận giám định số 69/KL-KTHS ngày 26/02/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang kết luận: Các hạt tinh thể rắn màu trắng không đồng nhất có tổng khối lượng là 6,7716 gam (không bao bì) là chất ma túy, loại Methamphetamine.
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai trong giai đoạn điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa.
Như vậy Hội đồng xét xử đã đủ cơ sở để xác định cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân Thành phố PQ truy tố bị cáo Lê Minh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 BLHS là đúng người, đúng tội phù hợp với quy định của pháp luật.
Về tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo còn trẻ không lo chí thú làm ăn tạo lập sự nghiệp mà lo ăn chơi sử dụng ma túy là chất cấm được Nhà nước độc quyền quản lý sử dụng. Tại thời điểm phạm tội bị cáo có đầy đủ khả năng nhận thức hành vi cất giữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng cần ma túy để sử dụng mà bị cáo vẫn cố tình thực hiện hành vi phạm tội. Hiện nay, tệ nạn ma túy đang là hiểm họa của toàn xã hội, là một trong những nguyên nhân phát sinh nhiều tệ nạn xã hội, làm suy thoái nòi giống, băng hoại đạo đức và ảnh hưởng đến phẩm giá con người. Do đó, Hội đồng xét xử phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục đối với bị cáo và cũng phòng ngừa chung cho xã hội đối với loại tội phạm này.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thật thà khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:
Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định là 6,7716 gam ma túy loại Methamphetamine và bao gối đã được niêm phong.
Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Sam Sung, màu vàng, số IMEI1: 356472094337665, đã qua sử dụng.
Quan điểm truy tố của Viện kiểm sát: Tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt và xử lý vật chứng mà vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là có cơ sở nên HĐXX xem xét.
Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1.Về trách nhiệm hình sự:
Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tuyên bố: bị cáo Lê Minh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Xử phạt: Bị cáo Lê Minh T 05 (năm) năm tù. Thời điểm chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 25/02/2021
2.Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:
Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định là 6,7716 gam ma túy loại Methamphetamine và bao gối đã được niêm phong.
Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Sam Sung, màu vàng, số IMEI1: 356472094337665, đã qua sử dụng
(Tang vật trên đã được chuyển giao cho chi cục thi hành án Dân sự Thành phố PQ theo quyết định chuyển giao vật chứng số 62/QĐ-VKSPQ-HS ngày 04/5/2021)
3. Về án phí căn cứ Điều 135 và Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Kiên Giang; - Sở Tư pháp tỉnh Kiên Giang; -VKSND Thành phố PQ; - Nhà tạm giữ Thành phố PQ; - Đội tổng hợp CA thành phố PQ; - THA Thành phố PQ; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà (Đã ký) Lê Thị Hồng Tâm |