- Tranh chấp gì? án hình sự — "NGUYỄN PHONG T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Phong T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG HỒ TỈNH VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 71/2021/HS - ST Ngày: 23/11/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG HỒ - TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Bé T
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Huỳnh Anh D
2. Ông Trương Hữu P
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc H - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Hồ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Hồ tham gia phiên toà: Ông Lê Tây B - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 11 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Hồ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 71/2021/TLST - HS ngày 29 tháng 10 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 76/2021/QĐXXST - HS ngày 09 tháng 11 năm 2021 đối với bị cáo: Nguyễn Phong T, sinh năm 1992.
Nơi cư trú: ấp L, xã P, huyện H, tỉnh Vĩnh Long; Nghề nghiệp: Mua bán; Trình độ văn hoá (học vấn) 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Hồng N, sinh năm 1968 và bà Trần Thị T, sinh năm 1970; anh, chị, em ruột có 03 người (lớn nhất sinh năm 1989, nhỏ nhất sinh năm 1999); Vợ là Biện Thị Thanh H, sinh năm 1992; con là Nguyễn Biện Anh T, sinh năm 2011.
Tiền án: Không; Tiền sự: Không
Nhân thân: Ngày 09/6/2011 bị Tòa án nhân dân huyện Long Hồ xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Cướp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 133 Bộ luật hình sự. Đã chấp hành xong hình phạt ngày 29/3/2012.
Ngày 09/9/2021 thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy bị cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Long Hồ bắt quả tang tạm giữ đến ngày 11/9/2021 bị khởi tố chuyển tạm giam cho đến nay (có mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 09/9/2021, T điều khiển xe môtô 64B2-499.45 đi từ nhà thuộc ấp L, xã P, huyện H, tỉnh Vĩnh Long đến khu vực cầu Chữ Y thuộc xã H, huyện H, tỉnh Vĩnh Long để mua 300.000đ ma túy đá từ một người tên T1, không rõ nhân thân. T đưa tiền cho T1, T1 đưa cho T 01 bịch nylon hàn kín bên trong chứa tinh thể màu trắng. Sau khi nhận được ma túy T cất giấu ma túy vào túi quần phía sau bên phải rồi điều khiển xe về nhà. Khoảng 09 giờ 10 phút cùng ngày, T điều khiển xe đến chốt kiểm dịch Covid-19 tại ấp L, xã H, huyện H thì bị công an huyện H yêu cầu dừng xe để kiểm tra và phát hiện bắt quả tang thu giữ bịch nylon hàn kín chứa tinh thể màu trắng.
Căn cứ kết luận giám định số 456/KLGĐ-PC09 ngày 11/9/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Long: 01 bịch ny lon hàn kín chứa tinh thể màu trắng thu giữ của Nguyễn Phong T là ma túy, có khối lượng 0,4997 gam loại Methamphetamine.
Tại cáo trạng số 74/CT - VKS ngày 29/10/2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Hồ đã truy tố bị cáo Nguyễn Phong T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Riêng đối với hành vi bán ma túy cho T của người tên T1, hiện Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Long Hồ đang tiếp tục xác minh, làm rõ, khi xác định được đối tượng sẽ xử lý sau.
Tại phiên tòa,
Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân huyện Long Hồ thực hiện quyền công tố vẫn giữ nguyên quyết định truy tố, trình bày lời luận tội, đánh giá tính chất, mức độ và hậu quả nguy hiểm cho xã hội cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị:
- Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Phong T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Phong T mức án từ 02 (Hai) năm đến 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ là ngày 09/9/2021.
Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 47 của Bộ luật hình sự, đề nghị:
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong số 456/KLGĐ-PC09 ngày 11/9/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Long bên trong chứa ma túy còn lại sau giám định, hiện Cơ quan Thi hành án dân sự huyện Long Hồ đang quản lý (theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 29/10/2021).
- Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Phong T phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Nguyễn Phong T thống nhất với bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đã biết lỗi, đã ăn năn, bị cáo xin Hội đồng xét xử xử nhẹ cho bị cáo để bị cáo sớm về lo phụ giúp gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục được quy định tại Bộ luật tố tụng Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Phong T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng với nội dung Cáo trạng đã nêu. Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 09/9/2021, T điều khiển xe môtô 64B2-499.45 đi từ nhà thuộc ấp L, xã P, huyện H, tỉnh Vĩnh Long đến khu vực cầu Chữ Y thuộc xã H, huyện H để mua 300.000đ ma túy đá từ người tên T1, không rõ nhân thân. Sau khi nhận được ma túy T cất giấu ma túy vào túi quần phía sau bên phải rồi điều khiển xe về nhà. Khoảng 09 giờ 10 phút cùng ngày, T điều khiển xe đến chốt kiểm dịch Covid-19 tại ấp L, xã H, huyện H thì bị công an huyện Hồ yêu cầu dừng xe để kiểm tra và phát hiện bắt quả tang.
Lời trình bày và khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan Cảnh sát điều tra cùng với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở khách quan kết luận bị cáo Nguyễn Phong T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội danh và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm quy định của nhà nước về quản lý các chất ma túy, không những gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người mà còn làm mất an ninh trật tự tại địa phương, làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận biết được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật sẽ bị phát hiện và xử lý nhưng vẫn mua ma túy về sử dụng. Do đó cần xử bị cáo một mức án tương xứng với hành vi của bị cáo nhằm răn đe, giáo dục để cải tạo, sửa chữa trở thành người tốt. Đồng thời, qua đó nhằm đấu tranh, ngăn chặn và phòng ngừa chung cho xã hội đối với loại tội phạm này.
Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long là có căn cứ và đúng pháp luật.
Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có xem xét tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo như sau: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.
Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có thu nhập, còn có con nhỏ phải nuôi dưỡng nên không áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Riêng đối với người bán ma túy cho Nguyễn Phong T. Hiện cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Long Hồ tiếp tục xác minh làm rõ. Khi nào xác minh được đối tượng sẽ xử lý sau.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 47 của Bộ luật hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong số 456/KLGĐ-PC09 ngày 11/9/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Long bên trong chứa ma túy còn lại sau giám định, hiện Cơ quan Thi hành án dân sự huyện Long Hồ đang quản lý (theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 29/10/2021).
Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Phong T phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng ) án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Phong T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Xử phạt bị cáo Nguyễn Phong T 02 (Hai) năm tù.
Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ ngày 09/9/2021.
Không áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 47 của Bộ luật hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong số 456/KLGĐ-PC09 ngày 11/9/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Long bên trong chứa ma túy còn lại sau giám định, hiện Cơ quan Thi hành án dân sự huyện Long Hồ đang quản lý (theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 29/10/2021).
3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Phong T phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long; - Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long; - Viện Kiểm sát nhân dân huyện Long Hồ; - Chi cục thi hành án dân sự Long Hồ; - Công an huyện Long Hồ; - Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Long - Bị cáo; - Lưu hồ sơ./. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Bé Tư |