- Tranh chấp gì? án hình sự — "đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Văn Đ phạm tội “Đánh bạc”;
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 71/2021/HS-ST Ngày: 29-9-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU - TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thuý Nga.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Bùi Thanh Hải - Bí thư huyện Đoàn thanh niên;
2. Ông Đỗ Việt Hùng - Cán bộ nghỉ hưu.
- Thư ký phiên toà: Bà Đoàn Thị Xuyến - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Long - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 9 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 66/2021/TLST-HS ngày 10 tháng 9 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 70/2021/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 9 năm 2021 đối với bị cáo:
Lê Văn Đ, sinh năm 1993; nơi sinh: xã G, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định; nơi cư trú: Xóm 10, xã G, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; con ông Lê Văn Q (đã chết) và con bà Lại Thị S, sinh năm 1967; gia đình có 02 anh em, bị cáo là thứ nhất; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 23-6-2021 đến ngày 02-7-2021 được áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. “Có mặt”
- Người làm chứng:
1. Anh Hoàng Quốc Huy, “vắng mặt”
2. Anh Đỗ Văn Khoa, “vắng mặt”
3. Chị Nguyễn Thị Thu Trang, “có mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do quen biết với Nguyễn Thị Thu Trang, sinh ngày 20-11-2004, trú tại xóm 14, xã G, huyện Hải Hậu từ trước nên khoảng đầu tháng 5-2021, Lê Văn Đ đặt vấn đề với Trang: Nếu có ai hỏi mua số lô, số đề thì Trang bán số lô, số đề cho khách, sau đó tổng hợp lại chuyển cho Đ. Trang nhất trí và thỏa thuận giá bán cho khách 1 điểm lô là 23.000 đồng; 1 điểm đề là 1.000 đồng; 1 điểm lô xiên là 10.000 đồng. Đ sẽ mua lại của Trang mỗi điểm lô với giá 21.900 đồng, số lô xiên Đ chiết khấu lại cho Trang 10% và việc mua bán, chuyển bảng số lô, số đề thông qua mạng Zalo, thanh toán thắng thua trong vòng 3 ngày, hình thức giao tiền trực tiếp hoặc chuyển khoản. Về hình thức sát phạt: Nếu kết quả xổ số kiến thiết miền Bắc mở thưởng trong ngày có 02 số cuối của giải đặc biệt trùng với số đề đã ghi thì người mua thắng và sẽ được hưởng 70 lần số tiền đã mua; Nếu có 02 số cuối của tất cả các giải trùng với số lô đã ghi thì người mua thắng, mỗi điểm lô = 80.000 đồng. Đối với lô xiên 2, nếu trùng cả hai cặp số người mua đã chọn với 02 số cuối tất các các giải thì người mua được hưởng 10 lần số tiền đã mua (Đ thanh toán cho Trang 11 lần). Nếu số lô đã ghi không trùng với một trong các trường hợp trên thì người mua bị mất số tiền đã mua. Đối với lô xiên 3, nếu trùng cả ba cặp số người mua đã chọn với 02 số cuối tất các các giải thì người mua được hưởng 40 lần số tiền đã mua. Nếu số lô, đề đã ghi không trùng với một trong các trường hợp trên thì người mua bị mất số tiền đã mua.
Ngày 6-5-2021, Trang nhắn tin qua mạng Zalo cho Hoàng Quốc Huy, sinh ngày 18-9-2003, trú tại phố Trần Hưng Đạo, thị trấn Liễu Đề, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định do Trang quen từ trước nói có ai mua số lô, số đề thì giới thiệu cho Trang. Hồi 16 giờ 11phút, ngày 07-5-2021, Hoàng Quốc Huy sử dụng tài khoản Zalo “Hoàng Huy” trong chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 nhắn tin vào tài khoản Zalo “Nguyễn Thị Thu Trang” trong chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X, có số thuê bao 0867 019 023 của Trang để mua các số lô: 86= 1000 điểm (1000 x 23.000đ = 23.000.000đồng); lô xiên 2: (86, 68)= 5.000.000đồng, (86, 40)= 5.000.000 đồng; lô xiên 3 (86, 68, 40) = 2.000.000 đồng. Đến 16 giờ 32 phút cùng ngày, Huy nhắn tin mua tiếp số lô 86= 300 điểm (300 x 23.000đ = 6.900.000đồng). Tổng số tiền Huy đã mua số lô của Trang là 41.900.000 đồng. Đến 16 giờ 37 phút cùng ngày, Trang sử dụng tài khoản Zalo “Nguyễn Thị Thu Trang” nhắn tin đến tài khoản Zalo “Trần Văn Thành” của Lê Văn Đ trong điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung Note 10 có số thuê bao 0973921738 chuyển toàn bộ số lô trên cho Đ. Ngoài ra Trang mua thêm của Đ các số lô 86 và 68 mỗi số 10 điểm; các số lô 28, 82, 74 mỗi số 5 điểm và số đề 13 = 30.000đồng. Cụ thể: Số lô Trang đã chuyển cho Đ là 1.335 điểm x 21.900đồng = 29.236.500 đồng; lô xiên 2 (68, 68) = 5.000.000đồng, trừ chiết khấu 10% = 4.500.000 đồng; lô xiên 2 (86, 40) = 5.000.000 đồng, trừ chiết khấu 10% = 4.500.000 đồng; lô xiên 3 (68, 86, 40) = 2.000.000 đồng và số đề 13= 30.000đồng. Tổng số tiền Trang chuyển cho Đ là 40.266.500đồng (trong đó số tiền Trang bán số lô cho Huy là 39.470.500đồng, tiền Trang mua số lô, số đề là 796.500đồng).
Đối chiếu với kết quả xổ sổ miền Bắc mở thưởng ngày 07-5-2021, Nguyễn Thị Thu Trang đã trúng điểm lô tổng số 1.325 điểm x 80.000đồng = 106.000.000đồng; số lô xiên 2(68, 86)= 5.000.000đồng x 11 = 55.000.000đồng. Tổng là 161.000.000 đồng (cả của Trang và Huy). Sau khi trừ đi số tiền Trang đã mua số lô, số đề, Đ phải thanh toán cho Trang số tiền 161.000.000 - 40.266.500= 120.733.500 đồng. Khoảng 15 giờ 30 phút, ngày 08-5-2021 tại khu vực đê sông Múc thuộc xóm 5, xã G, Đ đã thanh toán cho Trang số tiền 100.000.000đồng còn nợ lại 20.733.500 đồng. Như vậy xác định số tiền đánh bạc của Nguyễn Thị Thu Trang và Lê Văn Đ là 203.696.500 đồng; Hoàng Quốc Huy đã trúng 1.300 điểm lô x 80.000đồng = 104.000.000đồng; lô xiên 2 (68, 86) = 5.000.000đồng x 10 = 50.000.000đồng. Tổng số tiền Huy trúng là 154.000.000đồng. Xác định số tiền đánh bạc của Huy là 154.000.000đ (trúng) + 41.900.000đ (đánh) = 195.900.000đồng. Sau khi trừ đi số tiền mua số lô thì Trang phải trả cho Huy số tiền 154.000.000 đồng - 41.900.000đồng = 112.100.000đồng. Biết là đã trúng lô, Huy nhờ Trang mua 01 điện thoại di dộng Iphone 12 Promax, Trang đồng ý, Trang đến cửa hàng điện thoại di dộng của Đỗ Văn Khoa, sinh năm 1992, ở tổ dân phố Đỗ Bá, thị trấn Cồn, huyện Hải Hậu mua 01 điện thoại Iphone 12 Promax và phụ kiện điện thoại hết 30.000.000 đồng và nhờ Khoa chuyển tiền qua tài khoản cho Huy. Anh Khoa không biết việc Trang thanh toán tiền đánh bạc nên đã chuyển giúp Trang số tiền 60.000.000 đồng vào số tài khoản của Huy. Sau đó, Trang đem chiếc điện thoại di động đến cầu phao Ninh Cường, huyện Trực Ninh giao cho Huy, còn nợ Huy 22.100.000đồng. Ngày 22-6-2021, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm nên Nguyễn Thị Thu Trang đến cơ quan Công an huyện Hải Hậu tự thú về hành vi của mình; ngày 23-6-2021 Lê Văn Đ và ngày 27-7-2021 Hoàng Quốc Huy biết hành vi đã bị phát hiện nên đến Công an huyện Hải Hậu đầu thú.
Ngoài ra, Cơ quan điều tra đã thu giữ của Lê Văn Đ 01 điện thoại Sam Sung Note 10 vỏ màu đen, của Nguyễn Thị Thu Trang 01 điện thoại di động Iphone X vỏ màu đen, của Hoàng Quốc Huy 01 điện thoại di động Iphone 12 Promax, vỏ màu vàng. Còn chiếc điện thoại di động Iphone 7 Hoàng Quốc Huy sử dụng liên lạc mua số lô, do Huy đã bán cho người không quen biết nên không thu hồi được. Tại cơ quan điều tra, Lê Văn Đ, Nguyễn Thị Thu Trang và Hoàng Quốc Huy đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình và tự nguyện giao nộp số tiền đã sử dụng để đánh bạc: Lê Văn Đ nộp 61.000.000đồng; Nguyễn Thị Thu Trang nộp 10.796.500 đồng và Hoàng Quốc Huy nộp 101.900.000 đồng.
Đối với Nguyễn Thị Thu Trang, Hoàng Quốc Huy: Quá trình điều tra và truy tố Trang và Huy chưa có tiền án, tiền sự, khi phạm tội là người dưới 18 tuổi, sau khi phạm tội Trang đã tự thú, còn Huy đã ra đầu thú, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự nguyện nộp số tiền thu lời bất chính để khắc phục hậu quả. Gia đình Trang và Huy có đơn đề nghị được chính quyền địa phương xác nhận; Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Hải Hậu đề nghị miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho Trang và Huy. Do đó, ngày 08-9-2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu đã Quyết định số 01, 02 miễn trách nhiệm hình sự cho Nguyễn Thị Thu Trang và Hoàng Quốc Huy theo điểm a khoản 2 Điều 91 Bộ luật Hình sự và áp dụng biện pháp giáo dục tại chính quyền nơi bị can cư trú theo Điều 92, điểm a khoản 1 Điều 95 Bộ luật Hình sự.
Toàn bộ số lô, số đề đã nhận từ Nguyễn Thị Thu Trang, Đ khai chuyển lại cho Lê Văn Triệu, sinh năm 1989, trú tại xóm 4, xã G, huyện Hải Hậu nhưng hiện Triệu không có mặt tại địa phương, chưa đủ căn cứ để xử lý đối với Triệu nên Cơ quan điều tra tách ra để xử lý sau.
Cáo trạng số 66/CT-VKSHH ngày 09 tháng 9 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định truy tố Lê Văn Đ về tội “Đánh bạc” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
- Bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung vụ án đã nêu trên.
- Người làm chứng chị Nguyễn Thị Thu Trang trình bày: Trang và Đ có quen biết nhau từ trước, nên giữa Đ và Trang có thống nhất thỏa thuận mua bán số lô, số đề như Đ trình bày. Ngày 07-5-2021 Trang đã bán số lô cho Hoàng Quốc Huy và Trang mua thêm số lô, số đề và đã chuyển toàn bộ số lô, đề cho Đ, cụ thể: Số lô là 1.335 điểm x 21.900đồng = 29.236.500 đồng; lô xiên 2 (68, 68) = 5.000.000đồng, trừ chiết khấu 10% = 4.500.000 đồng; lô xiên 2 (86, 40) = 5.000.000 đồng, trừ chiết khấu 10% = 4.500.000 đồng; lô xiên 3 (68, 86, 40) = 2.000.000 đồng và số đề 13= 30.000đồng. Tổng số tiền Trang chuyển cho Đ là 40.266.500đồng (trong đó số tiền Trang bán số lô cho Huy là 39.470.500đồng, tiền Trang mua số lô, số đề của Đ là 796.500đồng). Đối chiếu với kết quả xổ sổ miền Bắc mở thưởng ngày 07-5-2021, Trang đã trúng điểm lô tổng 1.325 điểm x 80.000đồng = 106.000.000đồng; số lô xiên 2(68, 86)= 5.000.000đồng x 11 = 55.000.000đồng. Tổng là 161.000.000 đồng (cả của Trang và Huy). Ngày 08-5-2021, Đ đã thanh toán cho Trang số tiền 100.000.000đồng còn nợ lại 20.733.500đồng, sau khi trừ đi số tiền Trang đã mua số lô, số đề.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu giữ quyền công tố tại phiên toà giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Lê Văn Đ về tội “Đánh bạc” và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 321; điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Văn Đ từ 12 tháng đến 15 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án. Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo. Về vật chứng, đề nghị Hội đồng xét xử xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.
- Phần tranh luận tại phiên tòa: Kiểm sát viên và bị cáo không có ý kiến tranh luận gì.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo không có đề nghị gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Hải Hậu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã được thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa người làm chứng anh Hoàng Quốc Huy, Đỗ Văn Khoa đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa nhưng vắng mặt. Tuy nhiên hồ sơ vụ án thể hiện đầy đủ lời khai của họ trong quá trình điều tra. Việc vắng mặt của người làm chứng không ảnh hưởng đến việc xét xử. Do đó căn cứ Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
Lời khai nhận tội của bị cáo Lê Văn Đ tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và truy tố; biên bản tiếp nhận người phạm tội đầu thú; lời khai những người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Do quen biết từ trước nên Lê Văn Đ đã đặt vấn đề với Nguyễn Thị Thu Trang về việc Trang bán số lô, số đề cho khách sau đó tổng hợp chuyển lại cho Đ để hưởng chênh lệch. Trang đồng ý nên chiều ngày 07-5-2021, tại xã G, huyện Hải Hậu, Trang đã bán cho Hoàng Quốc Huy 1.300 điểm lô; 02 số lô xiên 2 (86-68, 86-40); 01 số lô xiên 3 (68-86-40) với tổng số tiền là 41.900.000 đồng, đồng thời Trang mua thêm 35 điểm lô (86, 68, 82, 28, 74) và 1 số đề 13 của Đ tổng số tiền là 796.500 đồng. Sau đó chuyển toàn bộ số lô, số đề của Huy và Trang cho Lê Văn Đ, Trang hưởng chênh lệch số tiền 2.430.000đ (trang bán cho Huy). Đối chiếu với kết quả xổ sổ miền Bắc mở thưởng ngày 07-5-2021, số tiền Huy và Trang đã trúng là 161.000.000 đồng. Như vậy Lê Văn Đ đã bán số lô, số đề cho Trang và trúng số lô với tổng số tiền là 203.696.500 đồng, Đ đã thanh toán tiền trúng lô cho Trang. Sau đó biết hành vi của mình là vi phạm bị phát hiện nên Đ đã đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Hải Hậu đầu thú. Do đó, hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự, như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ pháp luật.
Xét hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện thì thấy: Bị cáo là người có đủ năng lực hành vi, nhận thức được việc làm của mình là vi phạm pháp luật là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng nhưng với mục đích muốn lấy lòng tin với Trang để Trang được hưởng chênh lệch từ việc đánh bạc nên bị cáo đã cố tình thực hiện hành vi đánh bạc dưới hình thức bán số lô, số đề. Việc bị cáo đánh bạc dưới hình thức bán số lô, số đề cho người khác với số tiền khá lớn đã làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, gây bức xúc trong quần chúng nhân dân, đồng thời là nguyên nhân phát sinh nhiều tội phạm nguy hiểm khác. Để góp phần đấu tranh, dẹp bỏ tệ nạn cờ bạc, bảo vệ sự bình yên cho xã hội, cần phải xử lý nghiêm đối với bị cáo nhằm giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng ngừa chung.
Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong vụ án này bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào; Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, tự nguyện khắc phục số tiền mà các đối tượng đánh bạc và thắng, nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Sau khi sự việc xảy ra bị cáo tự nguyện đến cơ quan Công an đầu thú, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, bản thân bị cáo chưa có vợ con, bố đẻ đã chết, bị cáo là lao động chính, hoàn cảnh gia đình khó khăn có xác nhận của chính quyền địa phương, vì vậy cần xem xét cho bị cáo hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, đặc điểm nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Hội đồng xét xử thấy, bị cáo phạm tội lần đầu, chưa được hưởng lợi từ việc đánh bạc, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Xét hoàn cảnh gia đình cũng như bản thân của bị cáo, thấy cần cho bị cáo được hưởng lượng khoan hồng của pháp luật nên áp dụng cho bị cáo mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt phù hợp với quy định tại Điều 54 của Bộ luật hình sự cũng đảm bảo mục đích của hình phạt như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên toà hôm nay là phù hợp.
Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có thu nhập ổn định, chưa có vợ con, là lao động chính trong gia đình nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
- Số tiền 173.696.500 đồng đã thu giữ là tiền mua, bán số lô, số đề và tiền trúng số lô, số đề của Đ, Trang và Huy; 01 chiếc điện thoại di động Iphone 12 Promax Huy mua bằng tiền thắng bạc và 02 chiếc điện thoại của Trang và của bị cáo Đ sử dụng trao đổi, liên lạc để mua bán số lô, số đề cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.
- Sim điện thoại thu giữ của Lê Văn Đ số thuê bao 0973921738, của Nguyễn Thị Thu Trang số thuê bao 0867019023 dùng vào việc đánh bạc, xét thấy không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
- Chiếc điện thoại Iphone 7 Hoàng Quốc Huy đã bán cho người không quen biết, không thu hồi được nên không có căn cứ để xử lý.
Đối với Nguyễn Thị Thu Trang và Hoàng Quốc Huy đã được Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu đã Quyết định miễn trách nhiệm hình sự cho Trang và Huy theo điểm a khoản 2 Điều 91 Bộ luật Hình sự và áp dụng biện pháp giáo dục tại chính quyền nơi cư trú theo Điều 92, điểm a khoản 1 Điều 95 Bộ luật Hình sự là phù hợp.
Đối với Lê Văn Triệu: Quá trình điều tra xác minh hiện nay Triệu không có mặt tại địa phương, chưa đủ căn cứ để xử lý đối với Triệu nên Cơ quan điều tra tách ra để xử lý sau là phù hợp pháp luật.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 321; điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật Hình sự;
Tuyên bố bị cáo Lê Văn Đ phạm tội “Đánh bạc”;
Xử phạt bị cáo Lê Văn Đ 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án. (được trừ thời gian bị cáo bị tạm giữ từ ngày 23-6-2021 đến ngày 02-7-2021).
2. Căn cứ điểm d khoản 1, khoản 2 Điều 125 của Bộ luật tố tụng hình sự:
Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” đối với bị cáo Lê Văn Đ theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 41/LCĐKN, ngày 02 tháng 7 năm 2021 của Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định.
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tuyên tịch thu sung quỹ Nhà nước: 173.696.500 đồng đã thu giữ là tiền mua, bán số lô, số đề và tiền trúng số lô số đề; 01 chiếc điện thoại di động Iphone 12 Promax Huy mua bằng tiền thắng bạc và 02 chiếc điện thoại là của Trang và bị cáo Đ sử dụng trao đổi, liên lạc để mua bán số lô, số đề.
- Tuyên tịch thu, tiêu hủy: 01 thẻ sim của Nguyễn Thị Thu Trang số thuê bao 0867019023 và 01 thẻ sim của bị cáo Lê Văn Đ số thuê bao 0973921738 đã dùng vào việc phạm tội.
(Các vật chứng nêu trên được mô tả trong Biên lai thu tiền số AA/2012/08208 ngày 28-9-2021; ủy nhiệm chi ngày 28-9-2021 và Biên bản giao nhận vật chứng ngày 28-9-2021 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Hải Hậu và Chi cục thi hành án dân sự huyện Hải Hậu).
4. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/NQ- UBTVQH14, ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án: Bị cáo Lê Văn Đ phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hạn thi hành án thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
| Nơi nhận: -Bị cáo; -TAND tỉnh; -VKSND tỉnh, huyện; -Công an huyện; -UBND xã G; -Thi hành án HS; -Lưu hồ sơ vụ án; -Lưu VP. TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU TỈNH NAM ĐỊNH Vào hồi 16 giờ 35 phút, ngày 29 tháng 9 năm 2021; Tại: trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định. Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Phạm Thúy Nga. Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Thanh Hải ngày 10 tháng 9 năm 2021 đối với bị cáo Lê Văn Đ, sinh năm 1993; Nơi cư trú: Xóm 10, xã Hải Trung, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định; Căn cứ vào Điều 299 và Điều 326 của Bộ luật tố tụng hình sự; quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật. VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU: Ý kiến của ông Đỗ Việt Hùng: Điều 51; Điều 54 Bộ luật Hình sự; Tuyên bố bị cáo Lê Văn Đ phạm tội “Đánh bạc”; phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án. (được trừ thời gian bị cáo bị tạm giữ từ ngày 23-6-2021 đến ngày 02-7-2021). Văn Đ theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 41/LCĐKN, ngày 02 tháng 7 năm 2021 của Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định. điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. mua, bán số lô, số đề và tiền trúng số lô số đề; 01 chiếc điện thoại di động Iphone 12 Promax Huy mua bằng tiền thắng bạc và 02 chiếc điện thoại là của Trang và bị cáo Đ sử dụng trao đổi, liên lạc để mua bán số lô, số đề. bao 0867019023 và 01 thẻ sim của bị cáo Lê Văn Đ số thuê bao 0973921738 đã dùng vào việc phạm tội. ngày 28-9-2021; ủy nhiệm chi ngày 28-9-2021 và Biên bản giao nhận vật chứng ngày 28-9-2021 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Hải Hậu và Chi cục thi hành án dân sự huyện Hải Hậu). số 326/2016/NQ- UBTVQH14, ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án: Bị cáo Lê Văn Đ phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hạn thi hành án thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. Hùng. Hùng và ông Bùi Thanh Hải. Kết quả biểu quyết: 3/3 nhất trí = 100%. Nghị án kết thúc vào hồi 16 giờ 55 phút cùng ngày. xử cùng nghe và ký tên. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Xét xử 15h30 ngày 29-9-2021 | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Phạm Thúy Nga CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc BIÊN BẢN NGHỊ ÁN Ông Đỗ Việt Hùng Tiến hành nghị án vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 66/2021/TLST-HS Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa, kết HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH CÁC 1. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 321; điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Xử phạt bị cáo Lê Văn Đ 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn chấp hành hình 2. Căn cứ điểm d khoản 1, khoản 2 Điều 125 của Bộ luật tố tụng hình sự: Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” đối với bị cáo Lê 3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; - Tuyên tịch thu sung quỹ Nhà nước: 173.696.500 đồng đã thu giữ là tiền - Tuyên tịch thu, tiêu hủy: 01 thẻ sim của Nguyễn Thị Thu Trang số thuê (Các vật chứng nêu trên được mô tả trong Biên lai thu tiền số AA/2012/08208 4. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi Ý kiến ông Bùi Thanh Hải hoàn toàn nhất trí với ý kiến của ông Đỗ Việt Ý kiến bà Phạm Thúy Nga hoàn toàn nhất trí với ý kiến của ông Đỗ Việt Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả các thành viên Hội đồng xét THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ |