vanban.org

Bản án 71/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn Tuyên án 05/11/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vi Văn H phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Vi Văn H 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 08/6/2021. Về xử lý vật chứng: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vi Văn H - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vi Văn H phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CAO LỘC
TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 71/2021/HS-ST
Ngày 05-11-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LỘC, TỈNH LẠNG SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đặng Thị Duyện

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Đoàn Thị Tuyết Nhung

Bà Lê Thị Thảo.

- Thư ký phiên toà: Ông Hoàng Đình Sắc - Thư ký Toà án nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên toà: Bà Lộc Thị Mận - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 11 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 65/2021/TLST-HS ngày 06 tháng 10 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 71/2021/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 10 năm 2021 đối với bị cáo:

Vi Văn H, sinh ngày 02 tháng 10 năm 1991 tại: Huyện C, tỉnh Lạng Sơn. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn P, xã X, huyện C, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vi Văn M và bà Lương Thị Ng; vợ, con: Chưa có; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 14/5/2021, bị Tòa án nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định số 20/QĐ-TA; nhân thân: Bị Tòa án nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn, xử phạt bị cáo 36 tháng tù giam về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo Bản án số 51/2014/HSST ngày 29/8/2014 (nay bị cáo đã được xóa án tích); bị cáo bị tạm giữ từ ngày 08/6/2021, tạm giam từ ngày 11/6/2021 đến nay; có mặt.

Người làm chứng:

1. Anh Phương Văn Q; vắng mặt.

2. Anh Lý Văn Kh; vắng mặt.

3. Anh Hoàng Văn N; vắng mặt.

4. Anh Vi Văn Th; vắng mặt.

Người chứng kiến: Anh Hoàng Văn Ph; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 20 giờ, ngày 08/6/2021, Tổ công tác Cơ động Đồn biên phòng Ba Sơn phối hợp với Phòng phòng chống ma túy và tội phạm, Bộ chỉ huy biên phòng tỉnh Lạng Sơn làm nhiệm vụ tại khu vực Thôn P, xã X, huyện C, tỉnh Lạng Sơn phát hiện một đối tượng nam giới có biểu hiện nghi vấn. Tổ công tác tiến hành kiểm tra, đối tượng khai nhận tên là Vi Văn H, sinh năm 1991; trú tại: Thôn P, xã X, huyện C, tỉnh Lạng Sơn; kiểm tra trong túi quần bên phải có 01 (một) lọ nhựa màu trắng có dòng chữ Mebendazol 500mg, bên trong lọ là 39 (ba mươi chín) gói nhỏ chứa chất bột màu trắng nghi là ma túy. Vi Văn H khai nhận đây là ma túy Heroine mua của một người phụ nữ (không rõ tên, tuổi, địa chỉ) để sử dụng và bán kiếm lời. Tổ công tác đã đưa đối tượng cùng vật chứng về trụ sở lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, cùng ngày đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở Vi Văn H.

Vật chứng thu giữ: 01 (một) lọ nhựa màu trắng, bên trong có dòng chữ Mebendazol 500mg và số 01 màu đỏ, bên trong có 39 (ba mươi chín) gói nhỏ giấy vở học sinh chứa chất bột màu trắng nghi là chất ma túy; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu VIETTEL màu bạc đã cũ, có số IMEL1: 352138061420644; số IMEL2: 352138061420651; có gắn 01 (một) sim VIETTEL có số sê ri: 8984048000017885127; 01 (một) chiếc đèn pin màu đỏ đã cũ.

Khám xét nơi ở của Vi Văn H thu giữ 04 (bốn) xi lanh, trong đó 03 (ba) xi lanh đã qua sử dụng.

Tại Bản kết luận giám định số 305/KL PC09 ngày 10/6/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Lạng Sơn kết luận: Chất bột màu trắng gửi giám định là chất ma túy Heroine, có tổng trọng lượng 0,789 gam.

Tại Cơ quan điều tra bị cáo Vi Văn H khai nhận: Bản thân là người nghiện ma túy từ năm 2012, do cần tiền để sử dụng ma túy, nên Vi Văn H đi mua ma túy về sử dụng và bán kiếm lời. Khi có nhu cầu sử dụng, Vi Văn H thường mua ma túy với những người nghiện không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể. Thông qua những người nghiện ma túy, Vi Văn H còn mua ma túy với một người phụ nữ khoảng 50 tuổi ở cổng chợ Đ, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn 02 lần, lần thứ nhất là 100.000 đồng, lần thứ hai là 200.000 đồng. Ngoài ra Vi Văn H còn được mua ma túy với người phụ nữ khoảng 40 tuổi không rõ tên, tuổi ở thôn T, xã Th, huyện C, tỉnh Lạng Sơn 04 lần, trong đó 03 lần với giá 500.000 đồng, 01 lần với giá 1.000.000 đồng, tất cả những lần mua ma túy trên Vi Văn H đều không nhớ thời gian cụ thể. Khoảng 12 giờ ngày 08/6/2021, Vi Văn H đến nhà Phương Văn Q, sinh năm 2000, là người cùng thôn, rủ Phương Văn Q ra thành phố L chơi, Vi Văn H không nói cho Phương Văn Q biết ý định đi mua ma túy. Do có lịch đi uống Methadone tại Trung tâm y tế huyện C, tỉnh Lạng Sơn nên Phương Văn Q đồng ý đi cùng Vi Văn H. Sau đó Vi Văn H về mượn xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, biển kiểm soát 12D1- 35xxx của anh trai là Vi Văn V quay lại đón Phương Văn Q. Khi đi đến Trung tâm y tế huyện C, tỉnh Lạng Sơn, do chưa đến giờ uống thuốc Methadone nên Vi Văn H rủ Phương Văn Q đến khu vực gốc cây đa, thuộc thôn T, xã Th, huyện C, tỉnh Lạng Sơn trên đường đi, qua nói chuyện, Phương Văn Q mới biết mục đích Vi Văn H đi mua ma túy, Phương Văn Q có đưa cho Vi Văn H 500.000 đồng để nhờ Vi Văn H mua ma túy về sử dụng, Vi Văn H đồng ý và gọi điện cho một người phụ nữ ở khu vực thôn T, xã Th, huyện C, tỉnh Lạng sơn để hỏi mua 1.500.000 đồng tiền ma túy và nói của Vi Văn H 1.000.000 đồng, còn 500.000 đồng cho người đi cùng, người này đồng ý. Khoảng 10 phút sau người phụ nữ đi ra chỗ Vi Văn H đứng, Vi Văn H đưa cho người này 1.500.000 đồng (một triệu năm trăm nghìn đồng), sau đó người này chỉ cho Vi Văn H ra vị trí cách chỗ Vi Văn H đứng khoảng 05m, bên cạnh thùng rác để lấy ma túy được gói trong vỏ giấy kẹo và cất giấu ở đấy, Vi Văn H đến lấy mở ra và đưa cho Phương Văn Q gói nhỏ hơn, còn Vi Văn H lấy gói to hơn, số ma túy của Vi Văn H được 44 gói nhỏ, sau đó cả hai ra đằng sau miếu gốc cây đa thôn T, rồi Vi Văn H lấy 04 gói ma túy ra để pha với nước cất để sử dụng bằng hình thức chích, khi sử dụng xong, Vi Văn H gói số ma túy còn lại vào bao ni lon để cất giấu vào hậu môn. Sau đó, Vi Văn H và Phương Văn Q đến Trung tâm y tế huyện C, tỉnh Lạng Sơn để Phương Văn Q uống thuốc cai nghiện Methadone, rồi cả hai cùng về nhà. Đến khoảng 18 giờ ngày 08/6/2021, Vi Văn H bán cho Lý Văn Kh, sinh năm 1993, trú tại thôn Kh, xã X, huyện C 01 gói với giá 100.000 đồng. Khoảng 20 giờ cùng ngày, Vi Văn H ra cạnh nhà và mang theo 39 (ba mươi chín) gói ma túy còn lại thì bị Tổ công tác Cơ động, Đồn biên phòng Ba Sơn phối hợp với Phòng phòng chống ma túy và tội phạm, Bộ chỉ huy biên phòng tỉnh Lạng Sơn phát hiện bắt quả tang như đã nêu trên.

Quá trình điều tra làm rõ ngoài bán ma túy cho Lý Văn Kh, ngày 26/4/2021, Vi Văn H còn bán cho Hoàng Văn N, sinh năm 1986 và Vi Văn Th, sinh năm 1987 cùng trú tại Thôn P, xã X, huyện C, tỉnh Lạng Sơn mỗi người một gói với giá 100.000 đồng (không nhớ rõ thời gian cụ thể). Số ma túy trên Vi Văn H mua với người phụ nữ khoảng 40 tuổi ở thôn T, xã Th, huyện C, tỉnh Lạng Sơn.

Đối với người phụ nữ bán ma túy cho Vi Văn H ở khu vực gốc đa thôn T, xã Th, huyện C. Cơ quan điều tra xác định chủ số điện thoại mà người này dùng để liên lạc với Vi Văn H là Vy Văn C, sinh năm 1986, trú tại thôn N, xã Th, huyện C, tỉnh Lạng Sơn. Vy Văn C đã đi khỏi địa phương từ tháng 4 năm 2021. Ngoài lời khai của bị cáo không còn tài liệu nào khác, Cơ quan điều tra không đủ tài liệu để điều tra, xác minh làm rõ.

Đối với người phụ nữ đã bán ma túy cho Vi Văn H ở cổng chợ Đ, thành phố L, do không rõ tên tuổi địa chỉ cụ thể nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra làm rõ.

Đối với Phương Văn Q là người nhờ Vi Văn H mua 500.000 đồng tiền ma túy, mục đích mang về để sử dụng, Cơ quan điều tra không thu được vật chứng, do Phương Văn Q đã sử dụng hết nên không có căn cứ để xác định khối lượng ma túy mà Phương Văn Q đã mua. Do vậy, không có đủ căn cứ để xử lý trong vụ án này.

Đối với Lý Văn Kh, Hoàng Văn N, Vi Văn Th, là các đối tượng nghiện ma túy, mua ma túy của Vi Văn H về để sử dụng; Phương Văn Q là người nhờ Vi Văn H mua ma túy về để sử dụng, Cơ quan điều tra đã chuyển tài liệu đến Công an địa phương để lập hồ sơ, đề nghị Tòa án ra Quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, biển kiểm soát 12D1-35xxx, chủ sở hữu là Nông Văn T, khi Nông Văn T sửa nhà do thiếu tiền nên đã vay Vi Văn V số tiền 13.000.000 đồng và để lại chiếc xe trên để làm tin. Vi Văn H sử dụng vào việc đi mua ma túy Vi Văn V không biết nên không đề nghị xử lý trong vụ án này.

Tại bản Cáo trạng số: 62/CT-VKS ngày 04/10/2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố bị cáo Vi Văn H về Tội mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa:

Bị cáo Vi Văn H thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố. Tại Cơ quan điều tra anh Lý Văn Kh; anh Hoàng Văn N; anh Vi Văn Th khai nhận được mua ma túy với Vi Văn H, trùng khớp với lời khai của Vi Văn H tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo như Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Vi Văn H phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251, Điều 38, Điều 50, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 - xử phạt bị cáo Vi Văn H từ 07 đến 08 năm tù giam.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đề nghị Hội đồng xét xử: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì của Đồn Biên phòng Ba Sơn niêm phong dán kín, có chữ ký cùng tên của giám định viên Hoàng Mạnh Hà, trợ lý giám định và hình dấu của phòng Kỹ thuật hình sự tại phần giáp lai mới, bên trong có 01 (một) lọ nhựa màu trắng (cũ) có dòng chữ Mebendazol 500mg và số 01 màu đỏ đựng 01 gói giấy chứa 0,554 gam chất ma túy Heroine và 39 (ba mươi chín) vỏ giấy cũ; 04 (bốn) xi lanh (trong đó 03 xi lanh đã qua sử dụng, 01 xi lanh đựng trong vỏ nilon mới); 01 (một) chiếc đèn pin màu đỏ cũ đã qua sử dụng. Tịch thu hóa giá nộp vào ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu VIETTEL màu bạc đã cũ của bị cáo Vi Văn H, có số IMEL1: 352138061420644; số IMEL2: 352138061420651; có gắn 01 (một) sim VIETTEL có số sê ri: 8984048000017885127.

Truy thu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) của bị cáo Vi Văn H do bán ma túy mà có.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có công việc ổn định, không có tài sản gì có giá trị, là người nghiện ma túy, đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Bị cáo nhất trí với ý kiến, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và không có ý kiến tranh luận gì.

Trong lời nói sau cùng bị cáo trình bày: Bị cáo đã biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật và rất hối hận, xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã khai báo phù hợp với các chứng cứ khác và không có khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên là hợp pháp.

Về thủ tục tố tụng: Đối với anh Phương Văn Q, anh Lý Văn Kh, anh Hoàng Văn N và anh Vi Văn Th Tòa án không xác định là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, vì khi bị cáo Vi Văn H bị bắt mới khai ra trước khi bị bắt đã được bán ma túy cho anh Lý Văn Kh, anh Hoàng Văn N, anh Vi Văn Th và những người này tại cơ quan điều tra cũng thừa nhận được mua ma túy với bị cáo Vi Văn H và đã sử dụng hết; còn anh Phương Văn Q là người nhờ bị cáo Vi Văn H mua ma túy và đã sử dụng hết. Nên Tòa án xác định anh Phương Văn Q, anh Lý Văn Kh, anh Hoàng Văn N và anh Vi Văn Th là người làm chứng trong vụ án. Tại phiên tòa người làm chứng anh Phương Văn Q, anh Lý Văn Kh, anh Hoàng Văn N, anh Vi Văn Th và người chứng kiến anh Hoàng Văn Ph vắng mặt, không có lý do. Xét thấy, việc vắng mặt của những người làm chứng, người chứng kiến không ảnh hưởng đến việc xét xử vì trong hồ sơ đã có đầy đủ lời khai của họ. Do đó, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt những người làm chứng, người chứng kiến theo quy định tại khoản 1 Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Xét lời khai nhận tội của bị cáo Vi Văn H tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, có đủ căn cứ xác định: Khoảng 20 giờ ngày 08/6/2021, Tổ công tác Cơ động Đồn biên phòng Ba Sơn phối hợp với Phòng phòng chống ma túy và tội phạm, Bộ chỉ huy biên phòng tỉnh Lạng Sơn làm nhiệm vụ tại khu vực thôn P, xã X, huyện C, tỉnh Lạng Sơn phát hiện Vi Văn H có hành vi cất giấu 39 gói ma túy Heroin trong túi quần bên trái mục đích để bán và sử dụng. Qua giám định của Cơ quan chuyên môn kết luận số ma túy trên là chất ma túy Heroine, có tổng trọng lượng 0,789 gam (đã trừ bì). Trước đó Vi Văn H còn được bán ma túy cho Lý Văn Kh, Hoàng Văn N và Vi Văn Th mỗi người một gói với giá 100.000 đồng. Với hành vi trên, việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Vì vậy, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Vi Văn H phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Hành vi phạm tội của bị cáo Vi Văn H thuộc trường hợp rất nghiêm trọng, việc mua bán trái phép chất ma túy của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây tác hại xấu đến tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội, bản thân bị cáo đã từng bị xử phạt 03 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân mà vẫn tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Chúng ta đều biết ma túy là chất gây nghiện nguy hiểm do Nhà nước độc quyền quản lý, ma túy gây tổn hại về mặt kinh tế của gia đình và bản thân người sử dụng, gây hủy hoại sức khỏe của con người, suy giảm giống nòi dân tộc. Ma túy là nguyên nhân phát sinh, gia tăng nhiều loại tội phạm và các tệ nạn xã hội khác, gây mất trật tự, an ninh chính trị tại địa phương, gây nỗi bất bình trong quần chúng nhân dân. Hiện nay, việc đấu tranh phòng chống tệ nạn ma túy đang là nhiệm vụ cấp bách của toàn xã hội. Chính vì vậy, mọi hành vi vận chuyển, tàng trữ, mua bán trái phép chất ma túy đều phải bị xử lý nghiêm minh theo đúng quy định của pháp luật.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Về nhân thân: Bị cáo đã từng bị kết án, cụ thể là Bản án số 51/2014/HSST ngày 29/8/2014 bị Tòa án nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn xử phạt bị cáo 36 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy (nay đã được xóa án tích) và một tiền sự, cụ thể là bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định số 20/QĐ-TA ngày 14/5/2021, nên xác định bị cáo là người có nhân thân xấu.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng”. Do đó, bị cáo Vi Văn H có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, theo biên bản xác minh có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa thể hiện: Bị cáo không có công việc ổn định, không có tài sản gì có giá trị, là người nghiện ma túy. Nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Đối với 01 (một) phong bì của Đồn Biên phòng Ba Sơn niêm phong dán kín, có chữ ký cùng tên của giám định viên Hoàng Mạnh Hà, trợ lý giám định và hình dấu của phòng Kỹ thuật hình sự tại phần giáp lai mới, bên trong có 01 (một) lọ nhựa màu trắng (cũ) có dòng chữ Mebendazol 500mg và số 01 màu đỏ đựng 01 gói giấy chứa 0,554 gam chất ma túy Heroine và 39 (ba mươi chín) vỏ giấy cũ; 04 (bốn) xi lanh (trong đó 03 xi lanh đã qua sử dụng, 01 xi lanh đựng trong vỏ nilon mới) và 01 (một) chiếc đèn pin màu đỏ cũ đã qua sử dụng, là chất cấm lưu hành và những vật không có giá trị sử dụng, nên cần tịch thu tiêu hủy. Còn 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu VIETTEL màu bạc đã cũ, có số IMEL1: 352138061420644; số IMEL2: 352138061420651; có gắn 01 (một) sim VIETTEL có số sê ri: 8984048000017885127 của bị cáo Vi Văn H, bị cáo dùng vào việc liên lạc mua và bán túy, nên cần tịch thu hóa giá nộp vào ngân sách nhà nước.

Đối với số tiền bị cáo Vi Văn H bán ma túy cho Lý Văn Kh, Hoàng Văn N, Vi Văn Th được 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) bị cáo Vi Văn H đã tiêu hết, xác định đây là số tiền do phạm tội mà có, nên cần truy thu nộp ngân sách nhà nước.

Đối với người phụ nữ bán ma túy cho Vi Văn H ở khu vực gốc đa thôn T, xã Th, huyện C, tỉnh Lạng Sơn. Cơ quan điều tra xác định chủ số điện thoại mà người này dùng để liên lạc với Vi Văn H là Vy Văn C, sinh năm 1986, trú tại thôn N, xã Th, huyện C, tỉnh Lạng Sơn. Vy Văn C đã đi khỏi địa phương từ tháng 4 năm 2021. Ngoài lời khai của bị cáo Vi Văn H không còn tài liệu nào khác, Cơ quan điều tra không đủ tài liệu để điều tra, xác minh làm rõ. Nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với người phụ nữ bán ma túy cho Vi Văn H ở cổng chợ Đ, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn, do không rõ tên tuổi địa chỉ cụ thể nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh, điều tra làm rõ. Do vậy Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với Lý Văn Kh, Hoàng Văn N, Vi Văn Th, là đối tượng nghiện ma túy, mua của Vi Văn H về để sử dụng, Phương Văn Q là người nhờ Vi Văn H mua ma túy về để sử dụng, Cơ quan điều tra đã chuyển tài liệu đến Công an địa phương để lập hồ sơ, đề nghị Tòa án ra Quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tòa án nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn đã ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lý Văn Kh, Hoàng Văn N. Do vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với Phương Văn Q là người nhờ Vi Văn H mua 500.000 đồng tiền ma túy, mục đích mang về để sử dụng, Cơ quan điều tra không thu được vật chứng, do Phương Văn Q đã sử dụng hết nên không có căn cứ để xác định khối lượng ma túy mà Phương Văn Q đã mua. Do vậy không có đủ căn cứ để xử lý trong vụ án này. Nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, biển kiểm soát 12D1- 35xxx, chủ sở hữu là Nông Văn T, khi Nông Văn T sửa nhà do thiếu tiền nên đã vay Vi Văn V số tiền 13.000.000 đồng và để lại chiếc xe trên để làm tin. Vi Văn H sử dụng vào việc đi mua ma túy Vi Văn V không biết nên không đề nghị xử lý trong vụ án này. Nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn tại phiên tòa về tội danh, hình phạt và một số nội dung khác phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên được chấp nhận.

Về án phí: Bị cáo bị kết án. Do đó, phải chịu án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách nhà nước theo quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 332, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251, Điều 38, Điều 50, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015;

Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, điểm a, c khoản 2 Điều 106, khoản 1 Điều 293, Điều 331, Điều 332, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vi Văn H phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Vi Văn H 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 08/6/2021.

3. Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì của Đồn Biên phòng Ba Sơn niêm phong dán kín, có chữ ký cùng tên của giám định viên Hoàng Mạnh Hà, trợ lý giám định và hình dấu của phòng Kỹ thuật hình sự tại phần giáp lai mới, bên trong có 01 (một) lọ nhựa màu trắng (cũ) có dòng chữ Mebendazol 500mg và số 01 màu đỏ đựng 01 gói giấy chứa 0,554 gam chất ma túy Heroine; 39 (ba mươi chín) vỏ giấy cũ và 04 (bốn) xi lanh (trong đó 03 xi lanh đã qua sử dụng, 01 xi lanh còn mới); 01 (một) chiếc đèn pin màu đỏ cũ đã qua sử dụng.

- Tịch thu hóa giá nộp vào ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu VIETTEL màu bạc đã cũ, có số IMEL1: 352138061420644; số IMEL2: 352138061420651; có gắn 01 (một) sim VIETTEL có số sê ri: 8984048000017885127.

(Các vật chứng trên đang được lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn và được ghi chi tiết tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 09/9/2021 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn và Chi cục thi hành án dân sự huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn).

4. Về các biện pháp tư pháp: Truy thu của bị cáo Vi Văn H số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) để nộp vào ngân sách nhà nước.

5. Về án phí: Bị cáo Vi Văn H phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách nhà nước.

6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ