- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn L phạm tội Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Văn T và Nguyễn Văn L; Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 26/2021/HSST ngày 06/5/2021 của Tòa án nhân dân huyện K về phần hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn L
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 321 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 71/2021/HS-PT Ngày: 11/9/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Yển.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Chất và ông Nguyễn Văn Sơn
Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Mai Trang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Vững - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 9 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 68/2021/TLPT-HS ngày 21 tháng 6 năm 2021 đối với bị cáo Nguyễn Văn T và đồng phạm do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 26/2021/HS-ST ngày 06/5/2021 của Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Hải Dương.
Bị cáo kháng cáo:
1. Nguyễn Văn T, sinh năm 1984 tại huyện K, tỉnh Hải Dương; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Đội 10, xã Đ, huyện K, tỉnh Hải Dương; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 5/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn B (đã chết) và bà Đồng Thị L, sinh năm 1957; Vợ là Nguyễn Thị T, sinh năm 1985; Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2005, con nhỏ sinh năm 2012; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo tại ngoại (vắng mặt, có đơn xin xử vắng mặt).
2. Nguyễn Văn L, sinh năm 1972 tại huyện K, tỉnh Hải Dương; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: thôn L, xã H, huyện K, tỉnh Hải Dương; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 4/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn T (đã chết) và bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1938; Vợ là Phạm Thị T, sinh năm 1972; Bị cáo có 02 con, lớn sinh năm 1992, nhỏ sinh năm 1995; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo tại ngoại. (vắng mặt, có đơn xin xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Lợi dụng việc mở thưởng kết quả xổ số kiến thiết miền Bắc hàng ngày của Nhà nước, khoảng thời gian cuối năm 2019, Lương Đức C1, sinh năm 1988, trú tại: Thôn C, xã Đ, huyện K, tỉnh Hải Dương tìm gặp riêng các đối tượng là Nguyễn Văn T; Nguyễn Văn V; Nguyễn Tiến C2; Nguyễn Trọng D; Phạm Văn S và Phạm Thị H thỏa thuận thực hiện hành vi tổ chức đánh bạc, đánh bạc trái phép được thua bằng tiền dưới hình thức T, V, C1, D, S và H bán số lô, số đề cho người chơi. Hàng ngày, trong khoảng thời gian từ 17 giờ đến 18 giờ, C1 sẽ sử dụng hai số điện thoại 0979 580 806 và 0965 320 816 để gọi điện lấy số lô, số đề mà T, V, C2, D, S và H đã bán trong ngày. Cách tính thắng thua dựa vào kết quả xổ số kiến thiết miền Bắc mở thưởng trong ngày, cụ thể: nếu người chơi mua số đề trùng với 2 số cuối của giải đặc biệt thì thắng số tiền gấp 80 lần số tiền đã bỏ ra để mua; số đề 3 số (3 càng) nếu trùng với 3 số cuối của giải đặc biệt thì thắng số tiền gấp 400 lần số tiền đã bỏ ra mua; số lô nếu trùng với 02 chữ số cuối của một trong các giải thì thắng số tiền gấp 3,4 lần số tiền đã bỏ ra mua; đối với lô xiên 2, xiên 3, xiên 4 là các bộ số gồm 2, 3, 4 số lô thường, nếu người chơi đánh trùng cả 2, 3, 4 số lô thì thắng số tiền so với số tiền đã bỏ ra mua gấp 12 lần đối với lô xiên 2, gấp 48 lần đối với lô xiên 3, gấp 100 lần đối với lô xiên 4. Nếu người chơi thắng thì C1 sẽ đưa tiền cho T, V, C2, D, S và H trả cho người chơi, nếu người chơi thua thì mất toàn bộ số tiền đã mua số lô, số đề cho C1. Việc thanh toán thắng, thua vào ngày hôm sau, C1 sẽ đến tận nhà T, V, C2, D, S và H để thanh toán tiền thắng, thua và trả tiền hoa hồng cho T, V, C2, D, S, H là 15% trên tổng số tiền bán số đề, số lô xiên và 05% trên tổng số tiền bán số lô của ngày hôm trước.
Ngày 23/5/2020, Nguyễn Văn V bán cho Đồng Văn Q, sinh năm 1994, trú tại: Thôn P1, xã D, huyện K số lô và lô xiên tổng số tiền là 2.500.000 đồng, gồm: 02 số lô 98 và 81, mỗi số 1.000.000 đồng, số lô xiên 98-81 số tiền 500.000 đồng. Ngoài ra, V còn bán cho một số người khác chưa rõ địa chỉ các số lô, số đề với tổng số tiền là 3.675.000 đồng và nhận của Đồng Thị K, sinh 1962, trú tại: Thôn P2, xã D, huyện K các số đề với tổng số tiền là 585.000 đồng (K sử dụng điện thoại di động Viettel màu đen của K gọi vào điện thoại điện thoại di động Samsung A8 của Vang để chuyển số đề). Khoảng 18 giờ cùng ngày, Lương Đức C1 sử dụng số điện thoại 0965 320 816 gọi đến điện thoại di động Samsung A8 của V, V đã đọc để chuyển toàn bộ các số lô, số đề đã bán được và các số đề K nhờ chuyển nêu trên cho C1. Đối chiếu với kết quả xổ số kiến thiết miền Bắc ngày 23/5/2020 thì có 02 giải có số cuối là 81 nên số lô 81 của Q mua trúng thưởng được 6.800.000 đồng và một người không rõ tên, địa chỉ mua của V số lô 81 trúng thưởng được 680.000 đồng.
Hồi 17 giờ 42 phút ngày 23/5/2020, khi Nguyễn Tiến C2 đang ở nhà thì Nguyễn Văn L sử dụng điện thoại di động Iphone 6 của L, nhắn tin đến điện thoại di động Oppo màu đen của C1 mua 02 số lô 19 và 91, mỗi số 1.000.000 đồng, tổng số tiền là 2.000.000 đồng. C1 đồng ý bán và nhắn tin lại cho Liều để xác nhận. Sau đó, C1 gọi điện thoại vào số điện thoại 0979 580 806 để chuyển các số lô, số đề mà L đã mua cho Lương Đức C1 và Cương tự mua các số đề với Cảng tổng số tiền là 100.000 đồng. Đối chiếu với kết quả xổ số kiến thiết miền Bắc ngày 23/5/2020 thì có số lô 91 của L mua trúng thưởng được 3.400.000 đồng.
Ngày 23/5/2020, Nguyễn Trọng D nhận điện thoại của một người chưa rõ địa chỉ gọi đến điện thoại di động Nokia 3310 của Tuấn mua các số lô, số đề với tổng số tiền là 1.800.000 đồng và D bán cho một người chưa rõ địa chỉ đến nhà D mua các số đề với tổng số tiền là 470.000 đồng. Hồi 16 giờ 55 phút cùng ngày, Lương Đức C1 sử dụng số điện thoại 0979 580 806 gọi đến điện thoại di động Nokia 206 của D, D đã đọc để chuyển toàn bộ các số lô, số đề đã bán được cho C1, nhưng D giữ lại số lô 81 không chuyển cho C1, đồng thời D tự đọc mua các số đề, đề 3 số với C1 tổng số tiền là 3.055.000 đồng. Đối chiếu với kết quả xổ số kiến thiết miền Bắc ngày 23/5/2020 xác định người mua không rõ địa chỉ trúng thưởng số lô 81 được 3.400.000 đồng và D trúng thưởng số đề 91 được 1.600.000 đồng.
Ngày 23/5/2020, khi Nguyễn Văn T đang ở nhà thì Nguyễn Văn C3, sinh năm 1992, trú tại: Đội 10, xã Đ, huyện K sử dụng điện thoại di động Iphone 6s Plus nhắn tin Zalo đến điện thoại di động Oppo R9s của T mua các số đề và lô xiên, tổng số tiền là 700.000 đồng; một số người đến nhà Nguyễn Văn T, một số người nhắn tin vào điện thoại di động Oppo R9s của T (Đều chưa rõ địa chỉ) mua các số đề, đề 3 số, số lô, lô xiên tổng số tiền là 4.825.000 đồng. Toàn bộ các số lô, số đề bán được T đều chuyển cho Lương Đức C1 thông qua cuộc gọi thoại số 0979 580 806 của C1. Đối chiếu với kết quả xổ số kiến thiết miền Bắc ngày 23/5/2020 xác định người mua chưa rõ địa chỉ đã trúng thưởng số lô 11 được 680.000 đồng, số đề 91 được 800.000 đồng.
Ngày 23/5/2020, khi Phạm Văn S đang ở nhà thì Lê Minh B,sinh năm 1985, trú tại: Xóm 15, thôn X, xã T, huyện K sử dụng điện thoại di động Samsung Galaxy J3 nhắn tin đến điện thoại di động Oppo F9 của Sáu mua 02 số lô xiên 3, tổng số tiền là 100.000 đồng; một số người đến nhà Sáu, một số người nhắn tin vào điện thoại di động Oppo F9 của Sáu (Đều chưa rõ địa chỉ) mua các số đề, đề 3 số, số lô, lô xiên tổng số tiền 11.090.000 đồng. Toàn bộ các số lô, số đề bán được B đều chuyển cho Lương Đức C1 thông qua cuộc gọi thoại số 0979 580 806 của C1. Đối chiếu kết quả xổ số kiến thiết miền Bắc ngày 23/5/2020 xác định người mua chưa rõ địa chỉ đã trúng thưởng số lô 76 được 1.700.000 đồng, số đề 91 được 8.240.000 đồng.
Ngày 23/5/2020, Phạm Thị H bán cho một số người chưa rõ địa chỉ các số đề, đề 3 số, lô xiên với tổng số tiền là 1.043.000 đồng. Sau đó, H sử dụng điện thoại di động Nokia màu đen của H liên lạc với Lương Đức C1 thông qua cuộc gọi thoại số 0979 580 806 của C1 chuyển các số đề, đề 3 số, lô xiên cho C1 với tổng số tiền 870.000 đồng, H giữ lại các số đề với tổng số tiền 173.000 đồng. Đối chiếu với kết quả xổ số kiến thiết miền Bắc ngày 23/5/2020 xác định không có ai trúng thưởng.
Tối ngày 23/5/2020, sau khi có kết quả mở thưởng xổ số kiến thiết miền Bắc thì hành vi Tổ chức đánh bạc của C1, hành vi Đánh bạc của V, C2, D, T, S và H bị Tổ công tác thuộc Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Hải Dương phối hợp Công an huyện K phát hiện.
Các ngày 23 và 24 tháng 5/2020, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Hải Dương quản lý 01 chiếc điện thoại di động Samsung A8 cùng 01 tập giấy ghi số lô, sô đề do Nguyễn Văn V giao nộp; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Viettel màu đen cùng 01 quyển sổ ghi số lô, sô đề do Đồng Thị K giao nộp; 01 điện thoại di động Nokia 3310 và 01 điện thoại di động Nokia 206 cùng 03 quyển số ghi số lô, số đề do Nguyễn Trọng D giao nộp; 01 điện thoại di động Oppo F9 do Phạm Văn S giao nộp; 01 điện thoại di động Nokia, màu đen và 01 tờ giấy ghi số lô, số đề của người chơi do Phạm Thị H giao nộp; 01 điện thoại di động Oppo R9s cùng 01 quyển số ghi số lô, số đề và 01 quyển số ghi kết quả sổ số kiến thiết miền Bắc do Nguyễn Văn T giao nộp; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 do Nguyễn Văn L giao nộp; 01 điện thoại di động Oppo màu đen do Nguyễn Tiến C2 giao nộp; 01 điện thoại di động Samsung Galaxy J3 do Lê Minh B giao nộp; 01 điện thoại di động Iphone 6s Plus do Nguyễn Văn C3 giao nộp. Ngoài ra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Hải Dương quản lý 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone do Phạm Văn G, sinh năm 1988, trú tại: Thôn X, xã T, huyện K giao nộp,G khai ngày 02/5/2020, G đã sử dụng chiếc điện thoại này để nhắn tin mua số lô, số đề của Sáu; 01 điện thoại Iphon6 Plus do con trai của K là Nguyễn Văn M - sinh năm 1983 giao nộp, M khai hàng ngày sử dụng chiếc điện thoại này để nhận số lô, số đề của người mua sau đó chuyển cho V và V thanh toán tiền thắng, thua với K; 01 điện thoại di động Iphon6 do Nguyễn Văn TH, sinh năm 1975, trú tại: Thôn B, xã Đ, huyện K giao nộp, TH khai ngày 10/5/2020, TH đã sử dụng chiếc điện thoại này để nhắn tin mua số lô, số đề của D; 01 điện thoại Mastel do Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1979, trú tại: Thôn B, xã Đ giao nộp, Đ khai trước đó Đ đã sử dụng chiếc điện thoại này để nhắn tin mua số lô, số đề của D; 01 điện thoại di động Iphone8 Plus do Phạm Duy E, sinh năm 1995, trú tại: Thôn B, xã Đ giao nộp, E khai khoảng tháng 3/2020, E đã sử dụng chiếc điện thoại này để nhắn tin mua số lô, số đề của D; 01 điện thoại di động Iphone 8 Plus do Bùi Văn R, sinh năm 1983, trú tại: Thôn B, xã Đ giao nộp, Tòng khai trước đó R đã nhiều lần sử dụng chiếc điện thoại này để nhắn tin mua số lô, số đề của D. Theo C1 khai C1 sử dụng 02 chiếc điện thoại di động Nokia nắp sim thuê bao số 0979 580 806 và 0965 320 816 sử dụng vào việc phạm tội, ngày 23/5/2020, C1 đã đem vứt xuống sông, đến nay Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K không thu giữ được.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 26/2021/HS-ST ngày 06/5/2021 của Tòa án nhân dân huyện K đã căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 321, điểm i,s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự (BLHS); xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 10 tháng tù, Nguyễn Văn L 08 tháng tù đều về tội Đánh bạc và phạt bổ sung mỗi bị cáo 15.000.000 đồng sung quỹ Nhà nước. Ngoài ra bản án còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 10/5/2021 bị cáo T kháng cáo xin hưởng án treo và xin giảm hình phạt bổ sung; bị cáo L kháng cáo xin hưởng án treo. Giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm, bị cáo T xuất trình biên lai nộp tiền án phí, tiền phạt; bị cáo L nộp xác nhận ủng hộ quỹ phòng chống dịch Covid tại địa phương và có đơn bổ sung nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa, các bị cáo T, L có đơn xin xét xử vắng mặt, giữ nguyên nội dung kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) chấp nhận kháng cáo của các bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) tỉnh tham gia phiên tòa sau khi phân tích các tình tiết trong vụ án xác định cấp sơ thẩm đã xét xử các bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn L về tội Đánh bạc theo khoản 1 Điều 321 BLHS là có căn cứ, đúng pháp luật. Cấp sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (TNHS). Tại giai đoạn phúc thẩm các bị cáo đã xuất trình biên lai thu tiền án phí, tiền phạt và xác nhận ủng hộ quỹ phòng chống dịch Covid tại địa phương thể hiện thái độ chấp hành pháp luật của bị cáo. Tuy nhiên, mức hình phạt của T, L tại bản án sơ thẩm phù hợp với tính chất mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, phạt bổ sung 15 triệu đồng đối với bị cáo T là phù hợp, đúng pháp luật. Đề nghị HĐXX: căn cứ Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự; Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo; giữ nguyên hình phạt tại bản án sơ thẩm. Các bị cáo phải chịu án phí Hình sự phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Kháng cáo của các bị cáo trong thời hạn luật định, là kháng cáo hợp lệ nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
. Lời khai của các bị cáo T, L phù hợp với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm, phù hợp vật chứng đã thu giữ và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Nên có đủ căn cứ kết luận: Lợi dụng việc mở thưởng kết quả xổ số Miền Bắc hàng ngày của Nhà nước, ngày 23/5/2020, tại thôn C, xã Đ, huyện K, tỉnh Hải Dương, Nguyễn Văn T có hành vi đánh bạc trái phép được thua bằng tiền dưới hình thức bán số lô, số đề cho một số người không rõ địa chỉ với tổng số tiền là 5.525.000đồng, sau đó chuyển số lô, số đề đã bán cho Lương Đức C1 để hưởng hoa hồng, hành vi của T bị phát hiện sau khi có kết quả mở thưởng xổ số kiến thiết miền Bắc và trong các số lô, số đề T bán đã trúng thưởng số tiền là 1.480.000đồng, như vậy, tổng số tiền T đánh bạc là 7.005.000 đồng; tại thôn L, xã H, huyện K, tỉnh Hải Dương. Nguyễn Văn L có hành vi đánh bạc trái phép được thua bằng tiền dưới hình thức mua các số lô của Nguyễn Tiến C2 với tổng số tiền 2.000.000 đồng, hành vi của L bị phát hiện sau khi có kết quả mở thưởng xổ số kiến thiết miền Bắc và trong số lô L mua đã trúng thưởng số tiền là 3.400.000đồng, như vậy, tổng số tiền L đánh bạc là 5.400.000đồng. Do vậy, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Nguyễn Văn T và Nguyễn Văn L về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 BLHS là có căn cứ, đúng pháp luật. Về tội danh bị cáo không kháng cáo và VKSND không kháng nghị.
Xét kháng cáo của các bị cáo thấy rằng:
Các bị cáo có nhân thân tốt và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và được cấp sơ thẩm áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là: Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 BLHS. Tại giai đoạn phúc thẩm, bị cáo T xuất trình biên lai nộp tiền án phí, tiền phạt; bị cáo L nộp xác nhận ủng hộ quỹ phòng chống dịch Covid tại địa phương nên được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ mới quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS. Xem xét tính chất mức độ hành vi phạm tội, vai trò đồng phạm của bị cáo T, L trong vụ án thấy rằng: Hành vi của các bị cáo được tách ra từ vụ án hiện đang điều tra đối với Lương Đức C1 và đồng phạm, cả 02 bị cáo đều giữ vai trò thấp nhất trong vụ án này. Các bị cáo đánh bạc số tiền không nhiều, T bán lô đề cho một số đối tượng sau đó chuyển lại số lô đề cho C1, tổng số tiền bị cáo đánh bạc là 7.005.000 đồng còn L thực hiện việc mua số lô với tổng số tiền đánh bạc là 5.400.000 đồng. Tuy nhiên, xét hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm trật tự trị an tại địa phương, là nguyên nhân phát sinh các tội phạm khác. Hiện nay tình hình tội phạm đánh bạc xảy ra trên địa bàn có xu hướng gia tăng, phức tạp. Do vậy, HĐXX không chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của 2 bị cáo T, L, cần áp dụng hình phạt tù, cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới đảm bảo mục đích giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Nhưng cũng xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, vai trò của các bị cáo trong vụ án, tại cấp phúc thẩm có thêm tình tiết giảm nhẹ mới nên chấp nhận một phần kháng cáo của các bị cáo, giảm cho các bị cáo một phần hình phạt thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
Đối với kháng cáo của T đề nghị giảm hình phạt bổ sung thấy rằng: Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý, thông qua việc đánh bạc để thu lời bất chính, cấp sơ thẩm áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền mức tiền 15.000.000đ sung quỹ Nhà nước là phù hợp khoản 3 Điều 321 BLHS, nên không chấp nhận nội dung kháng cáo này của bị cáo Tuyên, giữ nguyên mức phạt bổ sung tại bản án sơ thẩm.
Về án phí: Các bị cáo kháng cáo được chấp nhận một phần nên không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo kháng nghị, HĐXX không xét và đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1.Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự;
Chấp nhận một phần kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Văn T và Nguyễn Văn L; Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 26/2021/HSST ngày 06/5/2021 của Tòa án nhân dân huyện K về phần hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn L
2. Điều luật áp dụng và hình phạt:
2.1. Áp dụng khoản 1, 3 Điều 321, điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự
2.2. Về hình phạt chính:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 06 (Sáu) tháng tù về tội Đánh bạc. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày đi thi hành án.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 04 (Bốn) tháng tù về tội Đánh bạc. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày đi thi hành án.
2.3. Về hình phạt bổ sung:
Phạt tiền bị cáo Nguyễn Văn T 15.000.000 (Mười lăm triệu) đồng sung quỹ Nhà nước.
3.Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn L không phải chịu án phí Hình sự phúc thẩm.
4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành kể từ ngày tuyên án phúc thẩm (Ngày 11/9/2021)./. N¬i nhËn:
| - VKSND tỉnh Hải Dương; - Sở Tư pháp tỉnh Hải Dương; - TAND huyện K; - CQCSĐT, CQTHAHS-CA huyện K; - VKSND huyện K; - Chi côc THADS huyện K; - Bị c¸o; - Lưu Tòa; lưu hå s¬. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (ĐÃ KÝ) Vũ Thị Yển |