vanban.org

Bản án 71/2020/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 15/12/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Lê Thành Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Lê Thành Đ 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 08/9/2020. Về vật chứng vụ án: Áp dụng khoản 1 điểm a khoản 2 Điều 106 - BLTTHS. Sau khi án có hiệu lực pháp luật, tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định, được niêm phong và đang thu giữ tại Ch… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Thành Đ - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Thành Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THANH HÓA
TỈNH THANH HÓA
Bản án số: 71/2020/HS-ST
Ngày: 15/12/2020.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nga

Các hội thẩm nhân dân:

1.Ông Nguyễn Xuân Huấn

2. Bà Lê Thị Loan

- Thư ký phiên toà: Bà Trần Minh Phương - Thư ký TAND thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lý - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 12 năm 2020, tại Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 76/2020/ HSST ngày 17 tháng 11 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 79/2020/QĐXXST - HS ngày 01 tháng 12 năm 2020 đối với:

Bị cáo Lê Thành Đ ; Sinh năm 1985;

Nơi ĐKHKTT: Số... Đại lộ LL, phường LS, thành phố TH, tỉnh TH; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; Trình độ văn hóa: Lớp 10/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Lê Huy P , sinh năm 1960 và bà Phạm Thị T T , sinh năm 1963; Vợ Lê Thị L , sinh năm 1987 và Dương Thị H sinh năm 1991 đều đã ly hôn; Bị cáo có 02 con, lớn sinh năm 2006, nhỏ sinh năm 2016; Tiền án: Không; Tiền sự: Ngày 18/10/2017 bị TAND TP.Thanh Hóa áp dụng biện pháp XLHC đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 18 tháng. Chấp hành xong ngày 20/4/2019.

Nhân thân: Ngày 30/11/2010 bị UBND TP.Thanh Hóa quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 24 tháng. Chấp hành xong ngày 02/12/2012

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 08/9/2020 tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thanh Hóa (Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 08 giờ 10 phút ngày 10/8/2020 tổ công tác Công an phường Trường Thi, TP.Thanh Hóa tuần tra trên tuyến đường Hồng Nguyên phường Trường Thi, TP.Thanh Hóa, khi đến trước số nhà 38 Hồng Nguyên thì phát hiện Lê Thành Đ có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy. Tổ công tác yêu cầu kiểm tra và phát hiện trên tay phải của Đ đang cầm 01 gói giấy trắng có dòng kẻ kích thước 01 x 02cm, bên trong chứa chất bột màu trắng, Đ khai đây là gói Herroin Đ mua để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã lập biên bản, thu giữ vật chứng, chuyển Công an TP. Thanh Hóa gửi giám định theo quy định của pháp luật.

Kết luận giám định số 2173/PC09 ngày 12/8/2020 của Phỏng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận: Chất bột màu trắng trong phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,224g (không phẩy hai hai bốn gam), loại Heroine.

Quá trình điều tra Lê Thành Đ khai nhận: Do nghiện ma túy nên khoảng 07 giờ 30 ngày 10/8/2020 Đ một mình đi bộ đến khu vực Cầu Treo (phường Đông Hương) tìm mua ma túy để sử dụng. Đ gặp Nam (do trước đây Đ gặp Nam đang sử dụng ma túy ở Công viên Hội An, TP.Thanh Hóa, hai bên có nói chuyện với nhau nên Đ biết tên người này là Nam nhưng không rõ địa chỉ của người này). Đ và Nam rủ nhau mỗi người góp 100.000đ để mua ma túy cùng sử dụng. Sau đó Nam cầm tiền đi mua ma túy (mua ở đâu, của ai Đ không biết), khoảng 20 phút sau Nam trở lại và đưa cho Đ một gói Herroin, bảo Đ đi lại đường Hồng Nguyên, phường Trường Thi đợi Nam đi mua dụng cụ (bơm kim tiêm và nước cất) để cùng sử dụng ma túy. Đ cầm gói Heroin Nam đưa đi bộ đến trước số nhà 38 Hồng Nguyên, phường Trường Thi, TP. Thanh Hóa đứng đợi Nam thì bị tổ công tác phát hiện và thu giữ tang vật

Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với tài liệu chứng cứ thu thập trong quá trình điều tra.

Vật chứng vụ án: Hiện đang thu giữ tại Chi cục Thi hành án thành phố Thanh Hóa gồm: Một phong bì ma túy niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Thanh Hóa, có hình dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an Thanh Hóa kèm chữ ký, chữ viết của Nguyễn Trần Đăng, Lê Minh Tiến, Trần Thị Thúy Hằng, Nguyễn Văn Quân, Nguyễn Đức Dũng niêm phong số ma túy còn lại sau giám định theo “Biên bản giao nhận vật chứng” số 46/THA ngày 25/11/2020 giữa Công an thành phố Thanh Hóa và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa.

Đối với người tên Nam, khoảng 40 tuổi mà Đ khai đã góp tiền mua ma túy cùng Đ , và đưa ma túy cho Đ tại khu vực Cầu Treo phường Đông Hương, Cơ quan điều tra đã phối hợp với Công an phường Đông Hương và Công an phường Trường Thi, TP. Thanh Hóa để rà soát, xác minh nhưng không xác định được người đàn ông có đặc điểm như Đ khai báo.

Cáo trạng số 346/CTr-VKS-MT ngày 16/11/2020, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố Lê Thành Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 - của Bộ luật hình sự, tuyên bố Lê Thành Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; xử phạt Lê Thành Đ từ 18 tháng đến 24 tháng tù; Vật chứng vụ án: Áp dụng khoản 2 điều 106 BLTTHS, tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định; án phí: bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, đề nghị HĐXX cho bị cáo được hưởng lượng khoan hồng với mức hình phạt thấp nhất của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, Lê Thành Đ khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với các tài liệu chứng cứ đã thu thập được trong quá trình điều tra vụ án. Căn cứ hành vi của bị cáo và kết quả giám định có đủ cơ sở kết luận: Hồi 08 giờ 10 phút ngày 10/8/2020, tại trước số nhà 38 Hồng Nguyên, phường Trường Thi, TP. Thanh Hóa, Lê Thành Đ đã có hành vi cất giữ trái phép 0,224 gam chất ma túy, loại Heroin, nhằm mục đích sử dụng.

Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Viện kiểm sát nhân dân TP. Thanh Hóa truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét tính chất vụ án: Vụ án có tính chất nghiêm trọng, hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lí của Nhà nước về việc cất giữ, vận chuyển, trao đổi chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, là một trong những nguyên nhân dẫn đến những hành vi phạm tội khác nên cần phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo.

Xét tình tiết tăng nặng giảm nhẹ, trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, điều 51- Bộ luật hình sự. Bị cáo có nhân thân xấu. Vì vậy, HĐXX xem xét có mức án phù hợp đảm bảo tính răn đe cũng như sự khoan hồng. Và cần cách li bị cáo ra khỏi đời sống cộng đồng xã hội một thời gian mới đủ điều kiện đề cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt có ích cho xã hội, và để phòng ngừa tội phạm chung.

Vật chứng vụ án: Xét số ma túy còn lại sau giám định hiện đang thu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự TP. Thanh Hóa là vật cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy khi án có hiệu lực pháp luật theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 106 - BLTTHS

Hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố là hợp pháp.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 điều 136 BLTTHS; khoản 1 điều 21; điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016; Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự.

- Tuyên bố: Bị cáo Lê Thành Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Xử phạt: Bị cáo Lê Thành Đ 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 08/9/2020.

- Về vật chứng vụ án: Áp dụng khoản 1 điểm a khoản 2 Điều 106 - BLTTHS. Sau khi án có hiệu lực pháp luật, tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định, được niêm phong và đang thu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự TP. Thanh Hóa theo “Biên bản giao nhận vật chứng” số 46/THA ngày 25/11/2020 giữa Công an thành phố Thanh Hóa và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa.

- Về án phí: Áp dụng khoản 2 điều 136 - BLTTHS; khoản 1 điều 21; điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Lê Thành Đ phải chịu 200.000đ án phí HSST.

- Về quyền kháng cáo: Bị cáo Lê Thành Đ có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 7, 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ