- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đặng Văn T tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố Đặng Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự trả lại; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ TĨNH TỈNH HÀ TĨNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 71/2020/HS-ST Ngày: 09-9-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ TĨNH, TỈNH HÀ TĨNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thanh Huyền
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Huy Hùng
Ông Nguyễn Phi Đỉnh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thanh Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Thu Hường - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 9 năm 2020 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 66/2020/TLST-HS ngày 07 tháng 8 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 74/2020/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 8 năm 2020 đối với bị cáo:
Đặng Văn T; Sinh ngày: 11/08/1991 tại xã E, huyện H, tỉnh Đắk Lắk; Nơi cư trú: Thôn 7B, xã E, huyện H, tỉnh Đắk Lắk; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con bà Trần Thị G (đã chết) và ông Đặng Văn T; Vợ con: Chưa có; Tiền sự, tiền án: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/5/2020 đến nay - Có mặt.
Người làm chứng:
- Ông Võ Tá H; Sinh năm 1964; Trú tại: Tổ dân phố 6, phường N, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh - Vắng mặt.
- Chị Nguyễn Thị D; Sinh năm 1986; Trú tại: Tổ dân phố 6, phường N, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh - Vắng mặt.
- Chị Nguyễn Thị T1; Sinh năm 1989; Trú tại: Tổ dân phố 8, phường P, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh - Vắng mặt.
- Chị Hồ Thị H1; Sinh năm: 1990; Trú tại: Số nhà 20, ngõ 13, đường B, phường N, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh - Vắng mặt.
- Anh Bùi Quốc H2; Sinh năm: 1984; Trú tại: Xóm T, xã K, huyện L, tỉnh Hà Tĩnh
- Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào hồi 16 giờ 20 phút ngày 06/05/2020, tại khu nhà trọ của chị Nguyễn Thị D ở ngõ 39, đường C thuộc tổ dân phố 6, phường D, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh, Công an thành phố Hà Tĩnh phát hiện và bắt quả tang Đặng Văn T đang cầm trên tay 01 chiếc ba lô màu đen, trong đó có 01 túi vải màu xám kích thước 07cm x14cm bên trong túi vải có 01 gói ni lông trong suốt kích thước 03cm x 03cm đựng chất tinh thể màu trắng. T khai nhận tinh thể màu trắng trên là ma túy đá T mua để sử dụng.
Tại Bản Kết luận giám định số 96/GĐMT-PC09 ngày 08/05/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Tĩnh kết luận: Chất tinh thể màu trắng đựng trong 01 gói ni lông trong suốt kích thước 03cm x 03cm có khối lượng 0,2281gam là Methamphetamine. Methamphetamine là chất ma túy nằm trong Danh mục II. C, STT 323, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Đặng Văn T khai nhận: Vào khoảng 18 giờ ngày 04/05/2020, T mua 01 gói ma túy đá của một người đàn ông lái xe ôm (không rõ lai lịch) ở khu vực vòng xuyến thuộc thị trấn Đức Thọ, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh với giá 300.000 đồng. Sau khi mua ma túy, T đi về chỗ ở tại xã X, huyện L, tỉnh Hà Tĩnh lấy một ít sử dụng, số ma túy đá còn lại trong túi ni lông T để trong chiếc túi vải màu xám rồi để vào vào ngăn thứ hai của chiếc ba lô màu đen của T. Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 06/05/2020, T mang chiếc ba lô có đựng gói ma túy đá trên đi đến dãy phòng trọ của chị Nguyễn Thị D ở khu vực ngõ 39 đường C thuộc tổ dân phố 6, phường D, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh để gặp chị Nguyễn Thị T (đang thuê phòng trọ của chị D). Đến 16 giờ 20 phút ngày 06/05/2020, Công an thành phố Hà Tĩnh phối hợp với Công an phường D, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh kiểm tra hành chính dãy phòng trọ thì phát hiện và bắt quả tang Đặng Văn T cùng tang vật. Bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về Kết luận giám định của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Tĩnh.
Bản cáo trạng số 65/CT-VKS-TPHT ngày 05/8/2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Tĩnh truy tố bị cáo Đặng Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố như Bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt Đặng Văn T từ 12 đến 18 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 06/5/2020; Hình phạt bổ sung: Không; Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự tịch thu và tiêu hủy 0,1878 gam Methamphetamine (đã trừ mẫu giám định), 01 ba lô màu đen bên ngoài có chữ adidas màu đỏ, 01 túi vải màu xám, 01 túi ni lông trong suốt kích thước 03cm x 03cm, 03 túi ni lông trong suốt kích thước 01 cm x 01 cm, 01 bật lửa gas màu đỏ, 01 ống thủy tinh trong suốt. Căn cứ khoản 1 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Trả lại cho bị cáo 01 sổ tạm trú mang tên Đặng Văn T.
Tại phiên tòa, bị cáo không tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát. Trong lời nói sau cùng, bị cáo trình bày đã biết sai, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Hà Tĩnh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Tĩnh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng, phù hợp Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Vào hồi 16 giờ 20 phút ngày 06/05/2020, tại phòng trọ của chị Nguyễn Thị D cho chị Nguyễn Thị T1 thuê ở khu vực ngõ 39 đường C thuộc tổ dân phố 6, phường D, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh, Đặng Văn T đang có hành vi tàng trữ trái phép 0,2281gam Methamphetamine để sử dụng thì bị Công an thành phố Hà Tĩnh phát hiện và bắt quả tang cùng tang vật. Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý. Như vậy, hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự quản lý của Nhà nước đối với chất ma túy, gây mất trật tự trị an trên địa bàn. Bị cáo có nhân thân tốt, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, gia đình thuộc hộ cận nghèo nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Căn cứ tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo hoàn cảnh khó khăn, thuộc hộ cận nghèo nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: 0,1878 gam Methamphetamine (đã trừ mẫu giám định) là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành; 01 ba lô màu đen bên ngoài có chữ adidas màu đỏ, 01 túi vải màu xám, 01 túi ni lông trong suốt kích thước 03cm x 03cm, 03 túi ni lông trong suốt kích thước 01 cm x 01 cm, 01 bật lửa gas màu đỏ, 01 ống thủy tinh trong suốt là công cụ, phương tiện phạm tội, không có giá trị theo quy định tại điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự tịch thu tiêu hủy; 01 sổ tạm trú mang tên Đặng Văn T không liên quan đến việc phạm tội theo quy định tại khoản 1 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự trả lại cho bị cáo.
Xét luận tội của Kiểm sát viên là có căn cứ, đúng pháp luật, về mức án đề nghị là phù hợp.
Theo lời khai của bị cáo thì số ma túy trên mua của một người đàn ông lái xe ôm ở khu vực vòng xuyến thuộc thị trấn Đức Thọ, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh nhưng không biết tên, tuổi, địa chỉ của người này nên không có căn cứ xử lý. Đối với chị Nguyễn Thị D là chủ phòng trọ, chị Nguyễn Thị T1 là người thuê phòng trọ, chị Hồ Thị H và anh Bùi Quốc H1 ở cùng Đặng Văn T tại phòng trọ khi bị bắt quả tang nhưng đều không biết bị cáo tàng trữ trái phép chất ma túy trong phòng trọ nên không xử lý là phù hợp.
Bị cáo thuộc hộ cận nghèo nên được miễn tiền án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự:
Tuyên bố Đặng Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt Đặng Văn T 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 06/5/2020.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự tịch thu và tiêu hủy: 0,1878 gam Methamphetamine (đã trừ mẫu giám định), 01 ba lô màu đen bên ngoài có chữ adidas màu đỏ, 01 túi vải màu xám, 01 túi ni lông trong suốt kích thước 03cm x 03cm, 03 túi ni lông trong suốt kích thước 01 cm x 01 cm, 01 bật lửa gas màu đỏ, 01 ống thủy tinh trong suốt. Căn cứ khoản 1 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự trả lại cho bị cáo 01 sổ tạm trú mang tên Đặng Văn T.
Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 điều 12 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Đặng Văn T.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TANDtỉnh Hà Tĩnh; - VKSND tỉnh Hà Tĩnh; - Sở Tư pháp Hà Tĩnh; - VKSND Tp Hà Tĩnh; - THADS Tp Hà Tĩnh; - Công an Tp Hà Tĩnh; - Trại tạm giam; - THAPT; Bị cáo; - Lưu: HS, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Lê Thanh Huyền |