- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Ngọc L phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều củ…"
- Tòa quyết gì? Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ GIÁO TỈNH BÌNH DƢƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 71/2020/HS-ST Ngày 24-9-2020 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ GIÁO, TỈNH BÌNH DƢƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hiên.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Kim Niệm;
Bà Nguyễn Thị Nga.
- Thư ký phiên toà: Bà Trịnh Thu Thảo - Thư ký Toà án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Ông Trịnh Đình Phượng - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 9 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 75/2020/TLST - HS ngày 31 tháng 8 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 80/2020/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 9 năm 2020 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Ngọc L (tên gọi khác Ô), sinh năm 1976 tại Bình Dương; nơi cư trú: khu phố Li, phường LT, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hoá: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Ngọc S và bà Nguyễn Thị B; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 04/7/2020 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên toà.
Nhân thân: Ngày 26/10/2009, bị TAND huyện Thuận An (nay là thành phố Thuận An), tỉnh Bình Dương xử phạt 09 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” chấp hành đến ngày 05/8/2016 được trả tự do (đã xoá án tích). [
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có nhu cầu sử dụng ma tuý nên khoảng 20 giờ 30 phút ngày 04/7/2020 bị cáo L đi bộ đến khu vực ngã tư Địa chất, thành phố Thủ Dầu Một để tìm mua ma tuý. Tại đây bị cáo gặp một người đàn ông chạy xe ôm (không rõ nhân thân lai lịch) và hỏi mua 200.000đ ma tuý đá, người đàn ông đồng ý bán cho bị cáo L một bịch lynon miệng kéo dính bên trong có chứa chất ma tuý với giá 200.000đ. Mua xong bị cáo quấn vào tay áo khoác bên phải đang mặc trên người để cất giấu, rồi bị cáo bắt xe khách về thị trấn PV, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương. Khi đi đến trạm thu phí đường bộ thuộc xã P do không đủ tiền trả tiền xe nên xe khách đuổi bị cáo xuống. Bị cáo đi bộ về thị trấn PV, khi đi đến đoạn đường thuộc ấp B, xã P thì bị Công an xã P kiểm tra và bắt quả tang hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý của bị cáo.
Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Phú Giáo thu giữ: 01 bịch lynon miệng kéo dính bên trong có chứa tinh thể màu trắng nghi là ma tuý.
Theo Bản kết luận giám định số 422/MT-PC09 ngày 10/7/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Dương kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng gửi đến giám định là ma tuý, có khối lượng 0,1917 gam loại Methamphetamine. Mẫu vật sau giám định có khối lượng 0,1446 gam được niêm phong trong bì thư có dấu mộc đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương.
Tại Bản cáo trạng số 75/CT-VKSPG ngày 31/8/2020 truy tố bị cáo Trần Ngọc L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà bị cáo L trình bày: Bị cáo xuống xe đò khi đi bộ đến đoạn đường ĐT 741 thuộc ấp B, xã P, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương thì bị lực lượng công an xã P, huyện Phú Giáo bắt quả tang tàng trữ ma tuý trong áo khoác mặc trên người. Bị cáo biết hành vi của mình là sai trái.
Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên toà phát biểu lời luận tội đối với bị cáo và giữ nguyên quan điểm truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất của vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Ngọc L từ 01 năm 06 tháng tù đến 02 năm tù. Hình phạt bổ sung: Không.
Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ 01 (một) bịch nylon miệng kéo dính, bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng có khối lượng 0,1446gam loại Methamphetamine.
Trong phần tranh luận bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, thống nhất tội danh, mức hình phạt không tranh luận gì thêm.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo biết hành vi của mình là sai trái, bị cáo ăn năn hối cải nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng là đúng thẩm quyền. Quá trình tố tụng và tại phiên toà bị cáo không khiếu nại về hành vi quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng. Những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập; người tham gia tố tụng cung cấp là phù hợp với quy định của pháp luật tố tụng hình sự.
Tại phiên toà, bị cáo Trần Ngọc L khai nhận hành vi phạm tội như sau:
Ngày 04/7/2020 bị cáo cất giấu 0,1917gam loại Methamphetamine quấn vào tay áo khoác bên phải đang mặc trên người để cất giấu đi xe khách từ Bình Dương lên thị trấn PV, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương khi đến ấp B, xã P không có tiền trả tiền xe nên bị đuổi xuống, khi đang đi bộ về thị trấn PV, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương thì bị lực lượng Công an xã P, huyện Phú Giáo bắt quả tang thu giữ 01 (một) bịch nylon miệng kéo dính bên trong có chứa tinh thể màu trắng bên trong có chứa 0,1917gam.
Theo Kết luận giám định số 422/MT-PC09 ngày 10/7/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Dương kết luận: Mẫu tinh thể thu giữ gửi đi giám định là ma tuý, có khối lượng 0,1917gam loại Methamphetamine.
Lời khai nhận của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, tang vật của vụ án và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, đủ cơ sở kết luận bị cáo Trần Ngọc L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Như vậy, Cáo trạng số 75/CT-VKSPG ngày 31/8/2020 của VKSND huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Bị cáo đủ tuổi, đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 12 của Bộ luật Hình sự.
Về nhận thức: Bị cáo biết được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vì muốn thỏa mãn nhu cầu của cá nhân nên bị cáo vẫn cố ý thực hiện bất chấp quy định của pháp luật.
Xét hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm hại đến chính sách quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, ảnh hưởng đến trật tự trị an trong khu vực, ảnh hưởng tiêu cực đến công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm về ma tuý mà Nhà nước ta đang tiến hành.
Ma túy đang là hiểm họa của nhân loại vì sử dụng rồi thì rất khó từ bỏ, nó không những gây ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe, kinh tế của người sử dụng mà còn làm lây lan nhiều căn bệnh xã hội nguy hiểm, là nguyên nhân phát sinh nhiều tệ nạn xã hội khác.
Hội đồng xét xử quyết định xử bị cáo một mức án thật nghiêm tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội để cải tạo bị cáo thành công dân có ích, đồng thời nêu gương phòng ngừa chung cho xã hội.
Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cần xem xét cho bị cáo được hưởng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ như sau:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Xét mức án mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Ý kiến, lời nói sau cùng của bị cáo về tội danh, về hình phạt là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Đối với đối tượng là người xe ôm bán ma tuý cho bị cáo hiện chưa rõ nhân thân lai lịch nên Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra xử lý sau.
Về việc xử lý vật chứng: Mẫu tinh thể màu trắng gửi đến giám định là ma tuý, có khối lượng 0,1917 gam loại Methamphetamine. Mẫu vật sau giám định có khối lượng 0,1446 gam được niêm phong trong 01 (một) bì thư có ký hiệu 422/PC09 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Dương, có chữ ký của bị cáo Trần Ngọc L, Xét đây là vật cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu huỷ.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1
Căn cứ vào:
Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
1. Vê tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Ngọc L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trần Ngọc L 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày ngày 4/7/2020.
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên:
Tịch thu tiêu huỷ 01 (một) bì thư có ký hiệu 422/PC09 niêm phong của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Dương có chữ ký của bị cáo Trần Ngọc L, khối lượng 0,1446 gam.
(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 31/8/2020 giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện Phú Giáo với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Giáo).
4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án: Buộc bị cáo Trần Ngọc L phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; (1) - VKSND tỉnh Bình Dương; (1) - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương; (1) - PV06 Công an tỉnh Bình Dương; (1) - VKSND huyện Phú Giáo; (1) - Công an huyện Phú Giáo; (2) - Chi cục THADS huyện Phú Giáo; (1) - Những người tham gia tố tụng; (1) - Lưu hồ sơ, VP. (2) | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hiên |