vanban.org

Bản án 71/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh Tuyên án 29/12/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lê Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt bị cáo Lê Văn T 01 (một) năm tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 (hai) năm tính từ ngày tuyên án. Giao bị cáo Lê Văn T cho Ủy ban nhân dân xã T, Huyện D, tỉnh T giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách; trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "“Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự - phạm tội vi phạm quy định…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN DƢƠNG MINH CHÂU
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 71/2020/HS-ST
Ngày 29-12-2020

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DƢƠNG MINH CHÂU- TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Bích Thủy.

Các Hội thẩm nhân dân:

- Ông Mai Văn Tự;

- Bà Nguyễn Thị Kim Đào.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Tiến, Thư ký Tòa án nhân dân Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Mai Thị Diệu Hiền, Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 12 năm 2020 tại Trụ sở Tòa án nhân dân Huyện Dương Minh Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 80/2018/HS-ST ngày 27 tháng 11 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 83/2020/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 12 năm 2020 đối với bị cáo:

Lê Văn T, sinh năm 1989 tại tỉnh T; nơi cư trú: Ấp T, xã T, Huyện D, tỉnh T; nghề nghiệp: Tài xế; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không có; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn S, sinh năm 1967 và bà Nguyễn Ngọc A, sinh năm 1969; vợ con chưa có; tiền án, tiền sự: Không có; áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú ngày 09 tháng 10 năm 2020 đến nay; có mặt.

- Bị hại: Ông Huỳnh Văn L, sinh năm 1973 (đã chết).

- Người đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Huỳnh Văn C, sinh năm 1952 là cha của bị hại; Huỳnh Thị T, sinh năm 1973, là vợ của bị hại; Huỳnh Văn T, sinh năm 1995; Huỳnh Thị Cẩm T, sinh năm 2004 và Huỳnh Quốc H, là con của bị hại; cùng địa chỉ cư trú: Ấp N, xã B, Huyện D, tỉnh T. Chị Huỳnh Thị T là người đại diện theo ủy quyền của ông Huỳnh Văn C và anh Huỳnh Văn T (văn bản ủy quyền ngày 03 và 22 tháng 10 năm 2020); là người đại diện theo pháp luật của Huỳnh Thị Cẩm T và Huỳnh Quốc H; vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

- Bị đơn dân sự: Công ty TNHH MTV Vận tải N. Người đại diện hợp pháp của bị đơn dân sự: Anh Dương Ngọc A, sinh năm 1973; địa chỉ cư trú: Khu phố 4, phường L, thị xã H, tỉnh T; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ 20 phút ngày 24 tháng 8 năm 2020, Ông Huỳnh Văn L điều khiển xe mô tô biển số 70H5-6706 lưu thông từ hướng xã C, huyện D, tỉnh T về hướng xã B, huyện D, tỉnh T. Khi đến khu vực ấp N, xã B thì va chạm với xe ô tô đầu kéo, biển số 70C-080.85 kéo theo sơmi rơmóoc, biển số 70R-010.42 do Lê Văn T điều khiển đang lùi từ lề trái ra đường nhựa tỉnh lộ 784 hướng từ xã B về hướng xã C không đảm bảo an toàn gây tai nạn giao thông. Hậu quả, ông L tử vong.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện D, tỉnh T, Lê Văn T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Kết luận giám định số 1327/KL-KTHS ngày 10 tháng 9 năm 2020 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh T kết luận nguyên nhân tử vong của nạn nhân ông Huỳnh Văn L là do chấn thương sọ não.

Khi điều khiển xe ô tô biển số 70C-080.85 gây tai nạn, bị cáo Lê Văn T có giấy phép lái xe theo quy định và không vi phạm nồng độ cồn.

Về vật chứng vụ án:

- Cơ quan điều tra đã thu giữ và giao trả lại cho anh Dương Ngọc A: 01 xe ô tô đầu kéo, nhãn hiệu FREGHTLINER, màu đỏ, biển số 70C-080.85, số khung BCG15LN33461, số máy 6B06R0777033; 01 sơmi rơmóoc, nhãn hiệu JUPITER, màu vàng, biển số 70R-010.42, số khung NS71F0LTW33; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 009009, mang biển số 70C-080.85; 01 giấy chứng nhận kiểm định số KD 3058354 phương tiện đăng ký biển số 70C-080.85; 01 giấy chứng nhận đăng ký sơmi rơmóoc số 000708, mang biển số 70R-010.42; 01 giấy chứng nhận kiểm định số KD 1184260 phương tiện đăng ký biển số 70R-010.42; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS số AD19/0075641, phương tiện đăng ký biển số 70C-080.85. Trả cho bà Huỳnh Thị T 01 xe mô tô, nhãn hiệu Ducal, biển số 70H5-6706, màu nâu, số khung NJ1002001090462, số máy 1P50FMG310406420 và một số linh kiện, phụ tùng của xe bị gãy rời.

- Thu giữ: 01 giấy phép lái xe hạng FC, số 790159239562 mang tên Lê Văn T.

Về trách nhiệm dân sự:

+ Lê Văn T và Công ty TNHH MTV Vận tải A là chủ xe ô tô đầu kéo biển số 70C-080.85 và sơmi rơmóoc biển số 70R-010.42 đã bồi thường cho gia đình Ông Huỳnh Văn L số tiền 100.000.000 đồng. Bà Huỳnh Thị T đã nhận đủ số tiền bồi thường, không có yêu cầu gì thêm và có đơn bãi nại, miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho T.

Bản Cáo trạng số 79/CT-VKS-DMC ngày 23 tháng 11 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân Huyện Dương Minh Châu đã truy tố bị cáo Lê Văn T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện Dương Minh Châu giữ nguyên cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

+ Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Lê Văn T từ 12 tháng đến 15 tháng tù cho hưởng án treo.

+ Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.

Bị cáo nói lời sau cùng: Xin được giảm nhẹ hình phạt

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Huyện Dương Minh Châu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Huyện Dương Minh Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi của bị cáo thể hiện:

Khoảng 21 giờ 20 phút ngày 24 tháng 8 năm 2020 tại đoạn đường khu vực ấp Ninh Bình, xã Bàu Năng, Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh, Lê Văn T điều khiển xe ô tô đầu kéo, biển số 70C-080.85 kéo theo sơmi rơmóoc, biển số 70R-010.42 đang lùi từ lề trái ra đường nhựa không đảm bảo khoảng cách an toàn nên đã va chạm vào xe mô tô biển số 70H5-6706, do ông Huỳnh Văn L điều khiển. Hậu quả làm ông L tử vong do chấn thương sọ não.

Căn cứ vào kết quả khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện và các dấu vết để lại hiện trường thì nguyên nhân gây ra tai nạn là do trong quá trình tham gia giao thông đường bộ bị cáo Lê Văn T điều khiển xe không đảm bảo khoảng cách an toàn nên gây ra tai nạn làm chết người, đã vi phạm khoản 1 Điều 16 của Luật Giao thông đường bộ. Do đó, hành vi của bị cáo đã phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự như luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ.

Hành vi nêu trên của bị cáo nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến an toàn công cộng, trật tự công cộng và đã gây thiệt hại đến tính mạng của người khác nên cần áp dụng hình phạt tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi bị cáo đã thực hiện để răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung. Khi quyết định hình phạt, có xem xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo:

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tình tiết tăng nặng: Không có.

Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo đã thành khẩn khai báo; ăn năn hối cải; đã bồi thường cho gia đình của bị hại xong số tiền 100.000.000 đồng nhằm khắc phục 01 phần hậu quả và gia đình của bị hại có đơn xin bãi nại, miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Do có nhiều tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên xử phạt bị cáo mức thấp của khung hình phạt cũng đảm bảo tính răn đe, giáo dục bị cáo, xét bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án tiền sự, có nơi cư trú ổn định nên cho bị cáo hưởng án treo là phù hợp.

Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại:

+ Gia đình của bị hại đã nhận số tiền bồi thường là 100.000.000 (một trăm triệu) đồng, không yêu cầu gì thêm nên ghi nhận.

+ Ghi nhận anh Dương Ngọc A không yêu cầu bị cáo S bồi thường thiệt hại về tài sản đối với xe ô tô biển số 70C-080.85 bị hư hỏng và không yêu cầu bị cáo Sang hoàn trả lại số tiền đã bồi thường cho bị hại trong vụ án này.

Về xử lý vật chứng:

+ Cơ quan điều tra Công an Huyện Dương Minh Châu đã giao trả xe ô tô đầu kéo biển số 70C-080.85 cho chủ sở hữu và giao trả xe mô tô biển số 70H5-6706 cho gia đình của bị hại xong là đúng quy định của pháp luật.

+ Tuyên trả lại cho bị cáo T: 01 giấy phép lái xe hạng FC, số 790159239562 mang tên Lê Văn T.

Về án phí: Căn cứ các Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội thì bị cáo Sang phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự.

1. Tuyên bố bị cáo Lê Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt bị cáo Lê Văn T 01 (một) năm tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 (hai) năm tính từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Lê Văn T cho Ủy ban nhân dân xã T, Huyện D, tỉnh T giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách; trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

“Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo”.

2. Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại:

+ Ghi nhận gia đình của bị hại đã nhận số tiền bồi thường là 100.000.000 (một trăm triệu) đồng, không yêu cầu gì thêm.

+ Ghi nhận anh Dương Ngọc A không yêu cầu bị cáo S bồi thường thiệt hại về tài sản đối với xe ô tô biển số 70C-080.85 bị hư hỏng và không yêu cầu bị cáo hoàn trả lại số tiền đã bồi thường cho bị hại trong vụ án này.

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

+ Ghi nhận anh Dương Ngọc A đã nhận lại 01 xe ô tô đầu kéo, nhãn hiệu FREGHTLINER, màu đỏ, biển số 70C-080.85, số khung BCG15LN33461, số máy 6B06R0777033; 01 sơmi rơmóoc, nhãn hiệu JUPITER, màu vàng, biển số 70R-010.42, số khung NS71F0LTW33; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 009009, mang biển số 70C-080.85; 01 giấy chứng nhận kiểm định số KD 3058354 phương tiện đăng ký biển số 70C-080.85; 01 giấy chứng nhận đăng ký sơmi rơmóoc số 000708, mang biển số 70R-010.42; 01 giấy chứng nhận kiểm định số KD 1184260 phương tiện đăng ký biển số 70R-010.42; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS số AD19/0075641, phương tiện đăng ký biển số 70C-080.85.

+ Ghi nhận bà Huỳnh Thị T đã nhận lại 01 xe mô tô, nhãn hiệu Ducal, biển số 70H5-6706, màu nâu, số khung NJ1002001090462, số máy 1P50FMG310406420 và một số linh kiện, phụ tùng của xe bị gãy rời.

+ Trả lại cho bị cáo Lê Văn T 01 giấy phép lái xe hạng FC, số 790159239562 mang tên Lê Văn T.

Vật chứng hiện Chi cục Thi hành án dân sự Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 24-11-2020.

4. Án phí HSST: Bị cáo Lê Văn T phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.

5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

6. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo bản án này lên Toà án nhân dân tỉnh Tây Ninh. Bị đơn dân sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ