- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Thị Diễm M + ĐP - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Bùi Thị Diễm M và bị cáo Nguyễn Thị Hồng V phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 71/2020/HS-ST Ngày: 12/5/2020 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Thanh Hương.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Phạm Thị Ngọc;
Nghề nghiệp: Cán bộ hưu trí.
2. Bà Nguyễn Phước Trinh.
Nghề nghiệp: Cán bộ hưu trí.
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Trang, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoa Huệ- Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 5 năm 2020 Tòa án nhân dân huyện Củ Chi xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 58/2020/TLST-HS ngày 30 tháng 3 năm 2020 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Bùi Thị Diễm M, sinh năm 1995; giới tính: Nữ; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp B, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; trình độ văn hóa: 10/12; nghề nghiệp: Không; cha: Bùi Văn U, mẹ: Huỳnh Thị D; anh chị em ruột gồm có 03 người kể cả bị cáo; chồng: Hồ Thái Bằng; con: 01 người sinh năm 2012.
Tiền án: Không; Tiền sự: Không.
Bị cáo bị giam giữ, tạm giam từ ngày 30/12/2019 cho đến nay.
Tiền án: Không.
Tiền sự: Không.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
2. Họ và tên: Nguyễn Thị Hồng V, sinh năm 1997; giới tính: Nữ; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp A, xã H, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; trình độ văn hóa: 09/12; nghề nghiệp: Công nhân; cha: Nguyễn Văn V, mẹ: Nguyễn Thị Hồng S; bị cáo chưa có chồng, con.
Tiền án: Ngày 25/8/2016 bị Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”, chưa được xóa án tích.
Tiền sự: Không.
Bị cáo bị giam giữ, tạm giam từ ngày 30/12/2019 cho đến nay.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Bị cáo Bùi Thị Diễm M và bị cáo Nguyễn Thị Hồng V bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Khoảng 12 giờ 10 phút ngày 30/12/2019, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an huyện Củ Chi phối hợp với Công an xã Tân Thạnh Đông, huyện Củ Chi kiểm tra hành chính phòng số 2 tại nhà nghỉ QP, thuộc ấp A, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh thì phát hiện trong phòng có Bùi Thị Diễm M và Nguyễn Thị Hồng V, trên bàn có 02 gói nylon chứa chất ma túy do M và V mua về với mục đích sử dụng.
Trước đó, vào khoảng 02 giờ 00 phút ngày 30/12/2019, Bùi Thị Diễm M đến thuê phòng số 2 tại nhà nghỉ QP, thuộc ấp A, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh để ở. Khoảng 06 giờ 00 phút cùng ngày, Nguyễn Thị Hồng V cũng đến thuê phòng không số tại nhà nghỉ QP để ở. Đến khoảng 11 giờ 30 phút, M qua phòng của V mượn điện thoại di động hiệu Samsung để chơi game, sử dụng mạng xã hội facebook và mang về phòng số 2 của M sử dụng. Sau đó, có Nhóc (chưa rõ lai lịch) gọi điện thoại cho M qua mạng xã hội facebook rủ mua ma túy sử dụng thì M đồng ý và M dùng điện thoại di động Samsung của V để gọi cho Trần Anh Ph, sinh năm 1976 theo số điện thoại di động 0384100028 hỏi mua 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) ma túy, hứa trả tiền sau. Ph đồng ý, sau đó M nói với V đến nhà của Ph tại ấp A, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh lấy ma túy về sử dụng chung. V thuê xe ôm đến trước cổng nhà Ph thì có một người thanh niên (chưa rõ lai lịch) ở trong nhà và nói vọng ra “lượm đi, ở dưới đất”, V liền nhặt 02 gói nylon chứa ma túy và cất giấu vào túi quần rồi đi xe ôm mang về phòng số 2 nhà nghỉ QP giao cho M. V về phòng lấy dây sạc điện thoại và quay lại phòng số 02 cùng M chờ Nhóc mang dụng cụ sử dụng ma túy đến để sử dụng ma túy thì bị Công an kiểm tra bắt quả tang. Qua kiểm tra, M và V dương tính (+) với ma túy tổng hợp.
Tại Kết luận giám định số 115/KLGĐ-H ngày 06/01/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: 02 gói niêm phong bên ngoài có in dấu vân tay, chữ ký ghi tên Bùi Thị Diễm M và hình dấu Công an xã Tân Thạnh Đông, huyện Củ Chi, bên trong có: Tinh thể không màu trong 02 gói nylon ký hiệu mẫu m là ma túy thể rắn, có khối lượng 0,2589 gam (không phẩy hai năm tám chín gam), loại Methamphetamine.
Vật chứng thu giữ:
- 01 điện thoại di động hiệu Samsung số Imei 1: 353465102323431/01, số Imei 2: 353466102323439/01 đã qua sử dụng của bị cáo Vy.
- Tiền Ngân hàng nhà nước Việt Nam: 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) của bị cáo M.
- 02 gói nylon chứa tinh thể không màu được niêm phong bên ngoài có dấu vân tay, chữ ký ghi tên Bùi Thị Diễm M và hình dấu Công an xã Tân Thạnh Đông, huyện Củ Chi.
Cơ quan Cảnh sát điều tra đã nhập kho vật chứng thuộc Đội Cảnh sát Thi hành án hình sự và Hỗ trợ tư pháp Công an huyện Củ Chi (bút lục 70-71).
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Đối với bị cáo Nguyễn Thị Hồng V có một tiền án chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, bị cáo Bùi Thị Diễm M và bị cáo Nguyễn Thị Hồng V thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.
Tại bản cáo trạng số: 69/CT-VKS ngày 30/3/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đã truy tố bị cáo Bùi Thị Diễm M và bị cáo Nguyễn Thị Hồng V về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Bùi Thị Diễm M và bị cáo Nguyễn Thị Hồng V về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và đề nghị:
- Áp dụng c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Bùi Thị Diễm M mức án từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.
- Áp dụng c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Hồng V mức án từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.
- Về vật chứng:
+ Trả cho bị cáo Vy 01 điện thoại di động hiệu Samsung số Imei 1: 353465102323431/01, số Imei 2: 353466102323439/01.
+ Trả cho bị cáo M số tiền 200.000đ (hai trăm nghìn đồng).
+ Tiêu hủy 02 gói nylon chứa tinh thể không màu được niêm phong bên ngoài có dấu vân tay, chữ ký ghi tên Bùi Thị Diễm M và hình dấu Công an xã Tân Thạnh Đông, huyện Củ Chi.
Các bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo Vy và bị cáo M xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để sớm đoàn tụ với gia đình.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án, Điều tra viên, Kiểm sát viên khi thực hiện hành vi cũng như ban hành các quyết định tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong vụ án đã thực hiện đều hợp pháp.
[2 Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay thống nhất với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp các tài liệu, chứng cứ khác phản ánh trong hồ sơ vụ án. Qua đó có đủ cơ sở xác định:
Ngày 30/12/2019, tại phòng số 2 nhà nghỉ QP thuộc ấp A, xã T, huyện C, bị cáo Bùi Thị Diễm M và bị cáo Nguyễn Thị Hồng V đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, qua giám định có khối lượng 0,2589 gam, loại Methamphetamine (Theo Kết luận giám định số 115/KLGĐ-H ngày 06/01/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh).
Với hành vi trên, bị cáo M và bị cáo V đã phạm vào tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 đúng như Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đã truy tố.
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm các quy định của Nhà nước về quản lý dược liệu, dược phẩm độc hại, làm mất trật tự trị an cho xã hội, gây dư luận xấu trong nhân dân. Do đó cần xử lý các bị cáo bằng một hình phạt nghiêm khắc, cần tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội trong một thời gian mới phát huy được tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo Bùi Thị Diễm M và bị cáo Nguyễn Thị Hồng V đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Đối với bị cáo M: Không có.
Đối với bị cáo V: Bị cáo từng bị Tòa án nhân dân huyện Củ Chi xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”, chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này được xem là tái phạm, Hội đồng xét xử quyết định áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để lượng mức hình phạt đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
- 01 điện thoại di động hiệu Samsung, số Imei 1: 353465102323431/01, số Imei 2: 353466102323439/01, thu của bị cáo Vy, bị cáo M đã sử dụng điện thoại này để liên lạc mua ma túy nhưng bị cáo Vy không biết; tại phiên tòa, bị cáo Vy xin nhận lại điện thoại nên Hội đồng xét xử xem xét trả điện thoại cho bị cáo Vy.
- Tiền Ngân hàng nhà nước Việt Nam: 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) thu của bị cáo M, số tiền này không liên quan đến việc phạm tội; tại phiên tòa, bị cáo M xin nhận lại số tiền trên, thấy có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
- 01 gói niêm phong mang số vụ 115/2020 có chữ ký niêm phong của Giám định viên và Cán bộ điều tra, là chất ma túy, Hội đồng xét xử quyết định tịch thu tiêu hủy.
Từ những phân tích trên, xét thấy đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi giữ quyền công tố tại phiên tòa là phù hợp, Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí hình sự sơ thẩm:
Xét cần buộc các bị cáo phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/10/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Bùi Thị Diễm M và bị cáo Nguyễn Thị Hồng V phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Xử phạt bị cáo Bùi Thị Diễm M 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 30/12/2019.
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Hồng V 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 30/12/2019.
- Áp dụng Điều 47 Bộ lật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; khoản 2, 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
Tịch thu tiêu hủy 01 gói niêm phong mang số vụ 115/2020 có chữ ký niêm phong của Giám định viên và Cán bộ điều tra;
Trả cho bị cáo Vy 01 điện thoại di động hiệu Samsung số Imei 1: 353465102323431/01, số Imei 2: 353466102323439/01;
Trả cho bị cáo M số tiền 200.000đ (hai trăm nghìn đồng).
(Theo Phiếu nhập kho vật chứng số: 32/PNK ngày 27/02/2020).
- Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
Án phí hình sự sơ thẩm buộc bị cáo Bùi Thị Diễm M phải nộp là 200.000đ (hai trăm nghìn đồng).
Án phí hình sự sơ thẩm buộc bị cáo Nguyễn Thị Hồng V phải ộp là 200.000đ (hai trăm nghìn đồng).
2. Các bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nôi nhaän: - TAND TP.HCM; - VKSND H.Củ Chi; - Chi cục THADS H. Củ Chi; - THA HS; - Phoøng PC53 Coâng an TP.HCM; - Sôû tö phaùp; - UBND nôi bò caùo cö truù; - Bò caùo; - Người TGTT; - Löu, hình söï, hoà sô. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Vũ Thị Thanh Hƣơng |