vanban.org

Bản án 71/2020/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Ngọc H.

Buộc anh Ngô Minh T trả cho chị Nguyễn Thị Ngọc H số tiền vốn vay 150.000.000 đồng (Một trăm năm mươi triệu đồng). Về án phí: Anh Ngô Minh T phải nộp 7.500.000 đồng (Bảy triệu năm trăm nghìn đồng) tiền án phí sơ thẩm dân sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp về hợp đồng vay tài sản"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Ngọc H.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LẤP VÒ
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 71/2020/DS-ST
Ngày: 03/9/2020
“V/v Tranh chấp về hợp đồng vay
tài sản”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẤP VÒ, TỈNH ĐỒNG THÁP

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Lẹ.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Kim Lịnh

2. Ông Nguyễn Văn Lực

Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Lê Phú Qúy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp.

Ngày 03 tháng 9 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lấp Vò mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 347/2020/TLST-DS ngày 17/7/2020 về việc “Tranh chấp về hợp đồng vay tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 100/2020/QĐXXST-DS ngày 17 tháng 8 năm 2020 và Thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa ngày 25/8/2020 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Ngọc H, sinh năm: 1972; địa chỉ: Số 189, ấp A, xã B, huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp; Có mặt tại phiên tòa.

- Bị đơn: Anh Ngô Minh T, sinh năm 1983; địa chỉ: Số 525, ấp A, xã B, huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp; Vắng mặt tại phiên tòa, có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Nguyên đơn Nguyễn Thị Ngọc H trình bày: Vào ngày 10/02/2019 âm lịch, anh T có vay của chị H số tiền 140.000.000 đồng, có làm biên nhận nợ, đến chiều cùng ngày anh T có hỏi vay thêm 10.000.000 đồng nhưng chị H chưa có tiền nên hẹn đến đến ngày 11/02/2019 âm lịch thì chị H có đưa cho anh T vay thêm 10.000.000 đồng, hẹn khi nào cần thì cho anh T hay để lấy lại, không lãi suất, số tiền 10.000.000 đồng không làm biên nhận. Sau đó, chị H có nhiều lần yêu cầu anh T trả lại số tiền trên nhưng anh T vẫn không trả. Nay chị H yêu cầu anh T trả lại vốn vay là 150.000.000 đồng không yêu cầu lãi.

Bị đơn Ngô Minh T trình bày: Ngày 15/3/2019, anh T có vay của chị H số tiền 150.000.000 đồng, lãi suất là 6%/tháng. Anh T có đóng lãi cho chị H đầy đủ với số tiền 9.000.000 đồng/tháng thời gian từ tháng 4/2019 đến tháng 4/2020. Từ tháng 5/2020 do kinh tế khó khăn nên anh T không có khả năng trả lãi cũng như vốn gốc cho chị H. Nay anh T đồng ý trả chị H số tiền vốn vay là 150.000.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Về tố tụng: Chị Nguyễn Thị Ngọc H khởi kiện yêu cầu anh Ngô Minh T trả số tiền vốn vay nên xác định quan hệ pháp luật trong vụ án này là “Tranh chấp về hợp đồng vay tài sản” theo quy định tại Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự. Quan hệ pháp luật tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện được quy định tại Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự. Anh Ngô Minh T có địa chỉ cư trú tại huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp nên Tòa án nhân dân huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp thụ lý giải quyết vụ án là đúng quy định tại Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của chị H thì chị H cung cấp cho Tòa án Biên nhận nợ ngày 10/02/2019 âm lịch. Trong Biên nhận ghi rõ anh T có mượn của chị H số tiền 140.000.000 đồng. Tại Bản trình bày ý kiến ngày 26/7/2020, anh T cũng thừa nhận có vay và còn nợ lại chị H số tiền 150.000.000 đồng. Do đó, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Ngọc H, buộc anh Ngô Minh T trả cho chị H số tiền vốn vay 150.000.000 đồng là phù hợp.

Đối với lãi suất: Anh T cho rằng có đóng lãi từ tháng 4/2019 đến tháng 4/2020 nhưng chị H không thừa nhận. Anh T không có chứng cứ chúng minh nên lời trình bày của anh T là không có cơ sở nên không được chấp nhận. Chị Nguyễn Thị Ngọc H không yêu cầu tính lãi nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Do đó, chị Nguyễn Thị Ngọc H yêu cầu anh Ngô Minh T trả cho chị H số tiền vốn vay là 150.000.000 đồng là có căn cứ nên được chấp nhận.

Về án phí: Anh Ngô Minh T bị buộc thực hiện nghĩa vụ nên phải chịu án phí sơ thẩm dân sự theo quy định pháp luật. Chị Nguyễn Thị Ngọc H không phải chịu án phí nên được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 26, 34, 35, 39, 91, 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 463, 466, 468 Bộ luật dân sự; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Ngọc H.

Buộc anh Ngô Minh T trả cho chị Nguyễn Thị Ngọc H số tiền vốn vay 150.000.000 đồng (Một trăm năm mươi triệu đồng).

Về án phí: Anh Ngô Minh T phải nộp 7.500.000 đồng (Bảy triệu năm trăm nghìn đồng) tiền án phí sơ thẩm dân sự.

Chị Nguyễn Thị Ngọc H được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp là 3.750.000 đồng (Ba triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng) theo Biên lai số BI/2019/0005855 ngày 14/7/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lấp Vò.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Chị Nguyễn Thị Ngọc H có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Ngô Minh T có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ