- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn H phạm tội tội tàng trữ ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
- Tòa quyết gì? Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 46 và Điều 47 Bộ luật hình sự;
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TU TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 71/2019/HS-ST Ngày: 04-6-2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG A XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TU, TỈNH BÌNH DƯƠNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đào Văn Hưng;
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Đào Văn Nô
2. Bà Nguyễn Thị Ngọc Anh
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Y n – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã TU, tỉnh Bình Dương.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã TU tham gia phiên tòa: Ông Phan Tấn Thành - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 6 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã TU, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 67/2019/TLST-HS ngày 13 tháng 5 năm 2019 theo Quy t định đưa vụ án ra xét xử số: 60/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 5 năm 2019 đối v i ị cáo:
A, sinh năm 1995 tại tỉnh B; nơi thường trú: Ấp P, xã L, huyện L, tỉnh B; tạm trú: Khu phố H, phường Th, thị xã TU, tỉnh Bình Dương; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: Không i t chữ; con ông D, sinh năm 1963 và à K, sinh năm 1967; ị cáo có 04 anh, chị, em, l n nhất sinh năm 1986, nhỏ nhất là ị cáo; tiền sự: Không;
Tiền án: Bản án số 62/2017/HSST ngày 06/6/2017 của TAND thị xã TU, tỉnh Bình Dương xử phạt 07 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 18/8/2017.
Tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/11/2018 cho đ n nay; có mặt.
- Người làm chứng:
1. Ông Nguyễn Thanh T, sinh năm: 1998; vắng mặt.
2. Ông Nguyễn Minh K, sinh năm: 1996; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
ua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm t t như sau:
A là đối tượng nghiện ma túy từ năm 2016, loại ma túy A sử dụng là ma túy đá (Methamphetamine).
Khoảng 17 giờ ngày 18/11/2018, A đang ở phòng trọ tại khu phố H, phường Thái A, thị xã TU, tỉnh Bình Dương thì có ạn tên N (không rõ tên, địa chỉ) đ n chơi. Do cần ma túy để sử dụng nên A mượn điện thoại di động của N để lên mạng xã hội Face ook nhắn tin cho đối tượng tên S (không rõ nhân thân, đã nhiều lần án ma túy cho A) để xin số điện thoại của S. Sau khi có số điện thoại của S, A đi ra ngoài phòng trọ và ti p tục sử dụng điện thoại di động của N gọi cho S hỏi mua ma túy đá v i số tiền 250.000 đồng, thì S đồng ý án và hẹn sẽ cho người đ n chỗ ở của A để giao ma túy. Sau đó, A đi ộ ra đường nhựa đầu hẻm cách phòng trọ của A khoảng 40 mét đứng đợi. Khoảng 15 phút sau có đối tượng (không rõ tên, địa chỉ) điều khiển xe mô tô loại Wave màu đen (không rõ iển số) đ n đưa cho A 01 (Một) vỏ ao thuốc lá hiệu Jet ên trong có 01 (Một) ịch nylon hàn kín chứa chất ma túy đá, A đưa cho đối tượng này số tiền 250.000 đồng. A lấy ịch nylon hàn kín ên trong có chứa chất ma túy ra rồi dùng tờ giấy ạc có sẵn trong ao thuốc lá ọc ịch nylon chứa chất ma túy đá lại rồi vứt vỏ ao thuốc lá. Sau đó, A cầm ịch ma túy đá này đi về lại phòng trọ, khi đi đ n ụi tre gần phòng trọ A cất giấu ịch ma túy đá này vào ụi tre rồi đi vào phòng trọ. Do sợ N i t việc mua ma túy của mình nên A đã xóa số điện thoại của S và đối tượng giao ma túy cho A trư c khi trả lại điện thoại di động cho N.
Khoảng 21 giờ 30 cùng ngày, N về. Do trư c khi mua ma túy, Hoà có hẹn v i Tý (không rõ tên, địa chỉ; là ạn của A) nên A đi ộ ra ụi tre lấy ịch ma túy đã cất giấu trư c đó tháo tờ giấy ạc ọc ên ngoài ra rồi cầm ịch nylon chứa chất ma túy đá này trên tay phải và ti p tục đi ộ ra đầu đường đợi Tý đ n. Khi đang đợi Tý, thấy lực lượng tuần tra Công an phường Th đi đ n, A vứt ịch nylon chứa chất ma túy đá xuống đất phía trư c mặt thì ị phát hiện. Công an phường Thái A ti n hành niêm phong ịch nylon hàn kín ên trong có chứa chất tinh thể màu trắng nêu trên và đưa A về trụ sở để lập iên ản ắt người phạm tội quả tang, thu giữ: 01 (Một) ịch nylon hàn kín ên trong chứa chất tinh thể màu trắng. Công an phường Thái A bàn giao A cùng hồ sơ, vật chứng cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã TU thụ lý theo thẩm quyền.
Tại K t luận giám định số 01/MT-PC09 ngày 21/11/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương, k t luận: Mẫu tinh thể gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,3408 gam, loại Methamphetamine.
Cáo trạng số 72/CT-VKS.TU ngày 13/5/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã TU truy tố ị cáo A về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quy t định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về tội danh: Tuyên ố ị cáo A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Về hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, xử phạt: A từ 02 (Hai) năm đ n 02 (Hai) năm 06 (S) tháng tù.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ các Điều 46 và Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên tịch thu tiêu hủy 0,3408 gam chất Methamphetamine đã thu giữ của ị cáo.
Quá trình điều tra xác định: Người phụ nữ tên N (không rõ tên, địa chỉ) không i t việc ị cáo A mua và cất giấu trái phép chất ma túy để sử dụng nên không đề cập xử lý.
Đối v i đối tượng tên S (không rõ tên, địa chỉ) có hành vi án trái phép chất ma túy cho A và đối tượng (không rõ tên, địa chỉ) trực ti p giao ma túy cho A vào ngày 18/11/2018. Do chưa xác định được nhân thân, địa chỉ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã TU chưa có căn cứ để xử lý, sẽ ti p tục xác minh làm rõ để xử lý sau.
Quá trình điều tra và tại phiên toà ị cáo A khai nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng nêu trên.
Trong lời nói sau cùng, bị cáo A trình ày: Bị cáo đã nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật, ăn năn hối cải, đề nghị Hội đồng xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào k t quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý ki n của Kiểm sát viên, các ị cáo và những người tham gia tố tụng khác,
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ XÉT THẤY:
1 Về thủ tục tố tụng: Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội trên địa àn thị xã TU, tỉnh Bình Dương. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã TU khởi tố vụ án, khởi tố ị can đối v i Nguyễn Văn Hoà là đúng thẩm quyền.
Về hành vi, quy t định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã TU, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thị xã TU và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, ị cáo và những người tham gia tố tụng không có người nào có ý ki n hoặc khi u nại về hành vi, quy t định của cơ quan ti n hành tố tụng, người ti n hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quy t định của cơ quan ti n hành tố tụng, người ti n hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
2 Về tình ti t định tội và định khung hình phạt: Tại phiên tòa, ị cáo A đã khai nhận toàn ộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng truy tố. Lời khai của ị cáo phù hợp Biên ản ắt người phạm tội quả tang ngày 19/11/2018 do Công an phường Th, thị xã TU lập; k t quả giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở k t luận:
Ngày 19/11/2018, tại phường Th, thị xã TU, tỉnh Bình Dương ị cáo A đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép 0,3408 gam ma túy, loại Methamphetamine v i mục đích để sử dụng. Khi thực hiện hành vi phạm tội, ị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của ị cáo A thực hiện đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Do đó, đủ căn cứ k t luận Cáo trạng số 72/CT-VKS-TU ngày 13/5/2019 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã TU truy tố A về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Về tình ti t giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo A được hưởng tình ti t “Người phạm tội thành khẩn khai áo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
4 Về tình ti t tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo A phải chịu tình ti t tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
5 Căn cứ quy t định hình phạt: Xét mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối v i ị cáo là có căn cứ, phù hợp v i tính chất, mức độ phạm tội, các tình ti t giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và nhân thân của ị cáo, đủ tác dụng giáo dục ị cáo và răn đe, phòng ngừa chung nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[6 Về xử lý vật chứng: Căn cứ các Điều 46 và Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử thấy:
Đối v i 01 (Một) ì thư đã được niêm phong bên trong ì thư có chứa chất Methamphetamine, bên ngoài có chữ ký và dấu vân tay của ị cáo A, chữ ký người chứng ki n Nguyễn Thanh T, Nguyễn Minh K; chữ ký cán ộ niêm phong Dương Hữu Hiệp, chữ ký giám định viên D, Đại úy M – Phó Trưởng Công an phường và hình dấu mộc đỏ Công an phường Thái A là vật chứng không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu huỷ.
[7] Về việc áp dụng, thay đổi, huỷ ỏ iện pháp ngăn chặn: Xét thấy cần ti p tục áp dụng iện pháp ngăn chặn tạm giam đối v i ị cáo A để đảm ảo cho việc thi hành án.
[8 Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phạm tội và ị k t án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Các Điều 106, 135, 136, 268, 269, 298, 299, 331 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự;
- Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 46 và Điều 47 Bộ luật hình sự;
- Nghị quy t số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy an thường vụ Quốc hội Khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Tuyên ố ị cáo A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt: Xử phạt: Bị cáo A 02 (Hai) năm 06 (S) tháng tù, thời hạn phạt tù tính từ ngày 19/11/2018.
Ti p tục áp dụng iện pháp ngăn chặn tạm giam đối v i ị cáo A để đảm ảo cho việc thi hành án.
3. Về xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy: 01 (Một) ì thư đã được niêm phong bên trong ì thư có chứa chất Methamphetamine, ên ngoài có chữ ký và dấu vân tay của ị cáo A, chữ ký người chứng ki n Nguyễn Thanh T, Nguyễn Minh K; chữ ký cán ộ niêm phong Dương Hữu Hiệp, chữ ký giám định viên D, Đại úy M – Phó Trưởng Công an phường và hình dấu mộc đỏ Công an phường Thái A và mộc dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự (PC09) Công an tỉnh Bình Dương.
4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo A phải chịu số tiền 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo ản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - VKSND tỉnh Bình Dương; - PV06, Công an tỉnh Bình Dương; - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương; - VKSND thị xã TU; - Công an thị xã TU; - Chi cục THADS thị xã TU; - Người tham gia tố tụng; - Lưu: HS, VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đào Văn Hưng |