- Tranh chấp gì? án hình sự — "ĐINH NGỌC THUỆN - GIAO CẤU VỚI NGƯỜI DUOI21 16 TUỔI - phạm tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo: Đinh Ngọc T, Lưu Đức Tphạm tội: “ iao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”;
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 145 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH LONG AN Bản án số: 71/2019/HS-ST Ngày: 03 - 10 - 2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN AN, TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Ngọc Tuyến.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Nam Quốc hà
Bà Nguyễn Thị Tĩnh
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Toàn Vẹn – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Đinh Ngọc T, Lưu Đức TAn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Thanh Vũ - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 57/2019/TLST-HS ngày 11 tháng 7 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 65/2019/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 8 năm 2019 đối với các bị cáo:
1/ Họ và tên: Đinh Ngọc T - sinh năm 1988; Nơi ĐKTT: Số 174/34 Nguyễn Đình Chiểu, phường 3, Thành phố Tân An, tỉnh Long An; Dân tộc: Kinh; Tôn iáo: Không; Trình độ học vấn: 2/12; Nghề nghiệp: Làm thuê; Cha ruột: Đinh Ngọc Vệ, sinh năm 1959; Mẹ ruột: Nguyễn Thị B, sinh năm 1964; Vợ: Võ Huỳnh Liên, sinh năm 1984 (không đăng ký kết hôn, không còn sống chung); có 01 con chung sống với mẹ; Chị em có 03 người; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 04/4/2019 bị Công an Thành phố Tân An, tỉnh Long An xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”; (bị cáo tại ngoại có mặt).
2/ Họ và tên: Lưu Đức T- sinh năm 1997; Nơi ĐKTT: Số 116/8A Nguyễn Đình Chiểu, phường 1, Thành phố Tân An, tỉnh Long An; Dân tộc: Kinh; Tôn iáo: Không; Trình độ học vấn: 8/12; Nghề nghiệp: Làm thuê; Cha ruột: Lưu Hữu Đức - sinh năm 1970; Mẹ ruột: Nguyễn Thị Hồng V - sinh năm 1973; Anh em có 02 người; Bản thân chưa có vợ, con; Tiền án: Không. Tiền sự: Năm 2017 bị đưa đi cai nghiện bắt buộc về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” thời gian 12 tháng (bị cáo tại ngoại có mặt).
Người bị hại: Trần Thị Mỹ C, sinh năm 2003 (có đơn xin vắng mặt),
Địa chỉ: ấp 2, xã Hòa Phú, huyện Châu Thành, Long An,
Người đại diện hợp pháp cho bị hại: Bà Lâm Thị Mai, sinh năm 1966 (có đơn
xin vắng mặt).
Địa chỉ: ấp 2, xã Hòa Phú, huyện Châu Thành, Long An,
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
Bà: Nguyễn Thị Hồng V, sinh năm 1973 (có măt)
Nơi ĐKTT: Số 116/8A, đường Nguyễn Đình Chiểu, Phường 1, Thành phố Tân An, tỉnh Long An.
Bà: Nguyễn Thị B, sinh năm 1964 (có mặt)
Nơi ĐKTT: Số 174/34 Nguyễn Đình Chiểu, phường 3, Thành phố Tân An, tỉnh Long An.
Anh Trần Đình V, sinh năm 1973 (vắng măt)
Nơi ĐKTT: Số 80, đường Cách Mạng Tháng Tám, Phường 1, Thành phố Tân
An, tỉnh Long An.
Người làm chứng: Trần Phát Toàn, Bùi Vĩnh Hưng, Nguyễn Thế Hòa, Lưu Quốc Phong (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 23 giờ ngày 17/4/2018, Đinh Ngọc T, Lưu Đức Tvà Trần Phát Toàn, sinh ngày 12/8/2002, ngụ 15/12/18 Thủ Khoa Huân, phường 1, Thành phố Tân An, tỉnh An uống bia tại vỉa hè chợ đêm Phường 3, Thành phố Tân An, Đinh Ngọc T, Lưu Đức TAn. Thuận nói với Thịnh muốn mua dâm với Trần Thị Mỹ C, sinh năm 2003, ngụ ấp 2, xã Hòa Phú, huyện Châu Thành, Đinh Ngọc T, Lưu Đức TAn, nhưng không biết số điện thoại của Châu. Thịnh sử dụng điện thoại di động gọi cho Châu, Thịnh đưa điện thoại cho Thuận nói chuyện với Châu. Thuận mời Châu đến chợ đêm phường 3, thành phố Tân An, Đinh Ngọc T, Lưu Đức TAn để ăn tối, Châu nói “kẹt công việc chút lên”. Thuận, Thịnh và Toàn tiếp tục ngồi uống bia đến khoảng 02 giờ ngày 18/4/2018 thì Châu điều khiển xe mô tô biển số 62R1-3374 đến gặp Thuận, Thịnh và Toàn. Thuận kêu Châu đi ăn tối, Châu đồng ý và điều khiển xe 62R1-3374 chở Thuận chạy trên đường Nguyễn An Ninh, phường 3, thành phố Tân An, Đinh Ngọc T, Lưu Đức TAn. Châu hỏi Thuận “còn bao nhiêu tiền” thì Thuận trả lời “còn sáu trăm ngàn”. Sau đó, Châu chở Thuận đến Khách sạn Rạng Đông, địa chỉ 221-223-225-227 Hùng Vương, phường 3, thành phố Tân An, Đinh Ngọc T, Lưu Đức TAn.
Khi vào khách sạn Rạng Đông, Thuận đưa giấy chứng minh nhân của Toàn (do Thuận đã mượn của Toàn trước đó) cho nhân viên tiếp tân khách sạn, còn Châu thì không có giấy chứng minh nhân dân nên khai tên Lâm Ngọc Nhi, sinh năm 1999, ngụ ấp 2, xã Hòa Phú, huyện Châu Thành, Đinh Ngọc T, Lưu Đức TAn. Sau khi nhận phòng 108, Thuận và Châu vào phòng, Thuận đóng cửa phòng và đi đến giường thứ 02 từ cửa nhìn vào, nằm ngửa, Châu đi lại ngồi trên bụng Thuận. Châu dùng tay lấy bóp (ví) của Thuận và lấy tiền, Châu trả bóp lại cho Thuận, Thuận xem bóp thì không còn tiền. Thuận nói “sao lấy hết tiền không đưa lại cho anh mấy chục ngàn mai ăn sáng” thì Châu đưa lại cho Thuận 70.000 đồng. Thuận cho Châu 350.000 đồng. Châu bỏ tiền vào túi xách. Thuận dùng hai tay ôm vào hai bên hông Châu, Thuận và Châu nằm xuống ôm nhau, Châu mặc váy đầm, Thuận dùng tay kéo quần lót Châu xuống đến mu bàn chân, Châu dùng chân đạp quần lót ra khỏi người, Thuận cởi quần áo ra và nằm úp trên mình Châu. Sau đó, Thuận khom người xuống hôn vào âm hộ Châu khoảng 03 phút rồi Thuận nằm úp trên mình Châu, tay phải cầm dương vật đưa vào âm hộ Châu, Thuận và Châu quan hệ tình dục (lần 1) khoảng 05 phút, Thuận không nhớ có xuất tinh hay không.
Thuận nằm xuống giường, lúc này khoảng 03 giờ sáng, Thịnh điện thoại hỏi Thuận “em lên phòng chơi được không?”, Thuận hỏi Châu “cho Thịnh và Toàn lên phòng không” thì Châu nói “kêu nó lên và đi mua bộ bài lên chơi”. Thuận kêu Thịnh đi mua bộ bài rồi lên phòng 108 Khách sạn Rạng Đông. Sau đó, Thuận đi về nhà lấy giấy chứng minh nhân dân, chỉ còn một mình Châu ở trong phòng. Khoảng 10 phút sau, Thuận quay lại khách sạn Rạng Đông, đưa giấy chứng minh nhân dân của mình cho nhân viên tiếp tân để cho Thịnh và Toàn được vào khách sạn. Thuận lên phòng 108 trước, sau đó Thịnh và Toàn lên sau. Khi Thịnh và Toàn vào phòng 108, thì Thuận nói với Thịnh “Châu nó lấy bóp của tao, lấy tao sáu trăm ngàn”, Thịnh nói “để mai về em phụ tiền cho anh”, Thuận đồng ý. Lúc này, Thịnh và Toàn đi lại giường số 01 nằm, Thuận và Châu nằm trên giường số 02, đùa giỡn với nhau. Châu nằm trên mình Thuận dùng răng cắn vào vai trái, vai phải và ngực trái, ngực phải của Thuận. Sau đó, Châu nằm ngửa, không mặc quần lót, các bị cáo Thuận cởi quần áo ra và nằm úp trên mình Châu, tay phải cầm dương vật đưa vào âm hộ Châu, Thuận và Châu quan hệ tình dục (lần 2) khoảng 05 phút, Thuận không nhớ có xuất tinh hay không.
Thuận nằm xuống sát bên cạnh Châu và hỏi Châu “cho Thịnh quan hệ được không?”, Châu đồng ý. Thịnh nghe nói như vậy thì từ giường số 01 đi qua giường số 02, Thịnh cởi quần áo ra, còn Châu nằm ngửa không mặc quần áo, Thịnh dùng hai tay kéo hai chân Châu rộng ra và nằm úp trên mình Châu, tay phải cầm dương vật đưa vào âm hộ Châu, Thịnh và Châu quan hệ tình dục (lần 1) khoảng 10 phút thì Thịnh xuất tinh vào tấm nệm trên giường (trong lúc Châu và Thịnh quan hệ tình dục thì Thuận vẫn nằm tại giường số 02). Sau đó Châu đi vệ sinh và đi lại giường số 02 nằm chung với Thuận. Thịnh mặc quần áo vào và đi trở về giường số 01.
Khoảng 30 phút sau, Thịnh kêu Châu qua giường số 01 thì Châu đi qua; Châu nằm lên mình Thịnh, dùng răng cắn vào vai trái và ngực trái của Thịnh. Sau đó, Châu ngồi dậy và cười, Thịnh nói với Châu “quan hệ một lần nữa rồi về”, Châu đồng ý. Thịnh cởi quần áo ra, Châu nằm ngửa không mặc quần lót, Thịnh dùng tay kéo váy đầm Châu lên, Thịnh dùng hai tay kéo hai chân Châu rộng ra và nằm úp trên mình Châu, tay phải cầm dương vật đưa vào âm hộ Châu, Thịnh và Châu quan hệ tình dục (lần 02) khoảng 05 phút thì Thịnh xuất tinh vào tấm nệm trên giường. Sau đó Châu đi vào nhà vệ sinh. Trong lúc Châu đi vệ sinh, thì Thuận lấy túi xách của Châu để ở trên giường lấy ra 880.000 đồng, cất giấu vào gối. Sau khi vệ sinh xong trở vào, Châu lấy túi xách đi về. Khoảng 05 phút sau, Châu quay lại nói bị mất tiền và điện thoại cho mẹ là bà Lâm Thị Mai đến, sau đó làm đơn tố cáo gửi cơ quan Công an.
Vật chứng thu giữ:
01 (một) quần sọc Jean màu xanh đen, không có hiệu, 01 áo sơ mi dài tay màu xanh, không có hiệu, 01 quần lót màu xám hiệu Callvimkernel, 01 xe mô tô loại Dream màu nho, biển số 62F4-1634, 01 ĐTDĐ hiệu Huawef màu vàng của Lưu Đức Thịnh.
01(một) áo sơ mi màu trắng dài tay, không có hiệu, 01 quần Jean màu xanh, không có hiệu, tiền Việt Nam 880.000 đồng, 01 ĐTDĐ hiệu Nokia màu đen của Đinh Ngọc T.
01 (một) áo đầm màu đen, không có hiệu, 01 quần lót màu xanh, hiệu Firepart, tiền Việt Nam 350.000 đồng của Trần Thị Mỹ C.
Căn cứ vào giấy khai sinh của Trần Thị Mỹ C, sinh ngày 02/05/2003, lập ngày 31/7/2008, thì tại thời điểm xảy ra là ngày 18/4/2018, Châu được 14 tuổi 11 tháng 16 ngày.
Bản kết luận giám định pháp y về độ tuổi số: 2916/C54B, ngày 18/7/2018, của Phân viện khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh, kết luận: Tại thời điểm giám định (tháng 7 năm 2018) thì Trần Thị Mỹ C có độ tuổi từ 16 năm đến 16 năm 06 tháng. Như vậy, tính lùi thời gian xảy ra vụ án ngày 18/4/2018 thì Trần Thị Mỹ C có độ tuổi từ 15 năm 09 tháng đến 16 năm 03 tháng. Theo quy định tại khoản 2 Điều 6 Thông tư liên tịch số 06 ngày 21/12/2018 của Viện kiểm sát nhân dân Tối cao, Tòa án nhân dân Tối cao, Bộ công an, Bộ tư pháp, Bộ lao động – thương binh và xã hội về phối hợp thực hiện một số quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về thủ tục tố tụng đối với người dưới 18 tuổi, xác định tuổi của Trần Thị Mỹ C là 15 năm 09 tháng.
Bản kết luận giám định số: 1864/C54B, ngày 08/6/2018, của Phân viện khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh, kết luận: Không phát hiện tinh trùng trong mẫu thu dịch âm đạo của bị hại Trần Thị Mỹ C.
Bản kết luận giám định pháp y về tình dục số: 21/TD.18-PY, ngày 26/4/2018,
của Trung tâm pháp y tỉnh Long An kết luận: Màng trinh rách cũ, vị trí 3 giờ, 9 giờ sát chân, màng trinh dãn rộng, đút lọt 2 ngón tay.
Quá trình điều tra, Châu khai do bị Thuận khống chế đe dọa đòi giết, nên Châu sợ hãi vào phòng 108, khách sạn Rạng Đông. Trong lúc quan hệ tình dục với Thuận và Thịnh, thì Châu có dùng răng cắn nhiều lần vào vai, ngực của hai các bị cáo nhằm không cho quan hệ tình dục là không có cơ sở chấp nhận. Vì tại quầy tiếp tân khách sạn Rạng Đông, Châu có đủ thời gian và điều kiện yêu cầu mọi người cứu giúp, nhưng không kêu cứu và khi vào phòng 108, Thuận bỏ đi về nhà 10 phút mới quay lại, lúc đó chỉ có một mình Châu trong phòng thì Châu có đủ thời gian chạy ra ngoài yêu cầu mọi người cứu giúp, nên chỉ xác định Châu đồng ý vào khách sạn Rạng Đông để quan hệ tình dục và được Thuận cho 350.000 đồng.
Như vậy, Đinh Ngọc T và Lưu Đức Tđã có hành vi giao cấu với Trần Thị Mỹ C mỗi người 02 lần khi Châu chưa đủ 16 tuổi. Tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Tân An, Đinh Ngọc T và Lưu Đức Tđã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.
* Việc xử lý vật chứng.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Tân An đã trao trả tài sản như sau:
01 quần sọc Jean màu xanh đen, không có hiệu, 01 áo sơ mi dài tay màu xanh, không có hiệu, 01 quần lót màu xám hiệu Callvimkernel, 01 xe mô tô loại Dream màu nho, biển số 62F4-1634, 01 ĐTDĐ hiệu Huawef màu vàng cho các bị cáo Lưu Đức Tlà chủ sở hữu.
01 áo sơ mi màu trắng dài tay, không có hiệu, 01 quần Jean màu xanh, không có hiệu, 01 ĐTDĐ hiệu Nokia màu đen cho các bị cáo Đinh Ngọc T là chủ sở hữu.
01 áo đầm màu đen, không có hiệu, 01 quần lót màu xanh, hiệu Firepart và 1.230.000 đồng (880.000 đồng và 350.000 đồng), cho Trần Thị Mỹ C là chủ sở hữu.
* Về trách nhiệm dân sự:
Bà Nguyễn Thị B, là mẹ của Đinh Ngọc T và bà Nguyễn Thị Hồng V là mẹ của Lưu Đức Tđã bồi thường cho Trần Thị Mỹ C thiệt hại về danh dự, tổn thất tình thần là 30.000.000 đồng (ba chục triệu đồng) và bà Lâm Thị Mai mẹ Châu đã có làm đơn bãi nại không yêu cầu xử lý đối với Thuận và Thịnh.
Đối với hành vi của Đinh Ngọc T, trộm cắp 880.000 đồng, vì chưa đủ định
lượng và Thuận chưa có tiền án, tiền sự nên chưa đủ căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “Trộm cắp tài sản”, Cơ quan Cảnh sát điều tra ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo Nghị định 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ.
Tại phiên toà, Kiểm sát viên sau khi phân tích tính chất và mức độ nguy hiểm xã hội của hành vi vi phạm pháp luật mà các bị cáo Thuận, Thịnh gây ra; đồng thời căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 145; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 50, Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); đề nghị hội đồng xét xử tuyên phạt các bị cáo Đinh Ngọc T mức hình phạt từ 15 đến 18 tháng tù, Lưu Đức Tmức hình phạt từ 15 đến 18 tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự:
Bà Nguyễn Thị B, là mẹ của Đinh Ngọc T và bà Nguyễn Thị Hồng V là mẹ của Lưu Đức Tđã bồi thường cho Trần Thị Mỹ C thiệt hại về danh dự, tổn thất tình thần là 30.000.000 đồng (ba chục triệu đồng) và bà Lâm Thị Mai mẹ Châu đã có làm đơn bãi nại không yêu cầu xử lý đối với Thuận và Thịnh, nên đề nghị không xem xét.
- Về tang vật chứng: trong quá trình điều tra cơ quan điều tra đã trả lại tài sản cho chủ sở hữu nên đề nghị không xem xét. s
Tại phiên tòa các bị cáo Đinh Ngọc T, Lưu Đức Thoàn toàn nhìn nhận hành vi phạm tội như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An truy tố, không đưa ra chứng cứ nào minh oan chỉ xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị Hồng V và bà Nguyễn Thị B thống nhất khai: Số tiền 30.000.000đ bị cáo Thuận và bị cáo Thịnh bồi thường cho người bị hại là tiền của bà Vân và bà Bỉ, mỗi người 15.000.000đ. Bà Vân và bà Bỉ không yêu cầu các bị cáo phải có nghĩa vụ trả lại số tiền này và không có yêu cầu nào khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Tân An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, người bị hại, đại diện hợp pháp người bị hại, người làm chứng đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tòa án tống đạt hợp lệ giấy triệu tập tham gia phiên tòa cho bị hại, người đại diện hợp pháp người bị hại, nhưng tại phiên tòa, bị hại và người đại diện hợp pháp người bị hại có đơn xin vắng mặt, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và những người làm chứng vắng mặt. Xét người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và những người làm chứng vắng mặt đã có lời khai trong quá trình điều tra và họ không có yêu cầu nào khác đối với các bị cáo nên việc vắng mặt những người này không gây trở ngại cho việc xét xử. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 293 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015.
Về nội dung:
Hành vi phạm tội: Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận Vào rạng sáng ngày 18/4/2018, Đinh Ngọc T và Lưu Đức Tđã có hành vi giao cấu với Trần Thị Mỹ C, ngụ Ấp 2, xã Hòa Phú, huyện Châu Thành, tỉnh Long An, mỗi người 02 lần tại phòng 108, Khách sạn Rạng Đông, địa chỉ 221-223-225-227 đường Hùng Vương, phường 3, thành phố Tân An, Long An khi Châu chưa đủ 16 tuổi. Tại Cơ quan điều tra, Thuận và Thịnh đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình.
Xét lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố và các tài liệu, chứng cứ khác gồm: Biên bản khám nghiệm hiện trường, bản ảnh, sơ đồ hiện trường ngày 18/04/2018, biên bản thu giữ vật chứng do Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Tân An lập; lời khai tại cơ quan điều tra của người bị hại, người đại diện hợp pháp của người bị hại, những người làm chứng, cụ thể như sau:
Bản kết luận giám định số: 1864/C54B, ngày 08/6/2018, của Phân viện khoa
học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh, kết luận: Không phát hiện tinh trùng trong mẫu thu dịch âm đạo của bị hại Trần Thị Mỹ C.
Bản kết luận giám định pháp y về tình dục số: 21/TD.18-PY, ngày 26/4/2018,
của Trung tâm pháp y tỉnh Đinh Ngọc T, Lưu Đức TAn kết luận: Màng trinh rách cũ, vị trí 3 giờ, 9 giờ sát chân, màng trinh dãn rộng, đút lọt 2 ngón tay.
Từ các chứng cứ trên, có cơ sở xác định các bị cáo đã có hành vi giao cấu với em Châu vào thời điểm em Châu chưa đủ 16 tuổi. Các bị cáo trên 18 tuổi, là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý, xâm phạm đến sự phát triển bình thường về thể chất và sinh lý của trẻ em. Vì vậy, hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “ iao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”. Cho nên Viện kiểm sát truy tố các bị cáo về tội “ iao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” theo điều 145 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là hoàn toàn có căn cứ.
Các bị cáo thực hiện hành vi giao cấu với em Châu 02 lần, nên định khung cấu thành tăng nặng “phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 145 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Quyền được tôn trọng về sức khỏe, danh dự, nhân phẩm là quyền thiêng liêng của mỗi cá nhân được pháp luật ghi nhận và bảo vệ. Trong lĩnh vực hình sự, những ai có hành vi xâm phạm sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, trong đó, có sự an toàn về tình dục của trẻ em, sự phát triển bình thường về tâm sinh lý của trẻ em đáp ứng quy định của pháp luật hình sự sẽ bị áp dụng chế tài nghiêm khắc nhất là hình phạt. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, do đó cần xử phạt nghiêm, cách ly các bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để đảm bảo mục đích răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung. Trong vụ án này các bị cáo phạm tội có đồng phạm, nhưng chỉ là đồng phạm giảm đơn, không có sự câu kết chặt chẽ.
Xem xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Xét các bị cáo; trong giai đoạn điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; các bị cáo khắc phục hậu quả, người bị hại có đơn bãi nại cho các bị cáo. Do đó các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm b, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015.
Các bị cáo có 2 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51, nên áp dụng một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật theo Điều 54 Bộ luật hình sự.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Trần Thị Mỹ C và người đại diện hợp pháp bà Lâm Thị Mai đã nhận 30.000.000 đồng tiền khắc phục hậu quả của gia đình các các bị cáo nên không yêu cầu gì thêm về phần trách nhiệm dân sự.
Đối với số tiền 30.000.000 bà Bỉ bà Vân là mẹ của các bị cáo Đinh Ngọc T, Lưu Đức Tbỏ ra bồi thường cho người bị hại, tại phiên Tòa bà Bỉ và bà Vân không yêu cầu các bị cáo trả lại nên không đề cập xem xét.
Về xử lý vật chứng: Không
Về án phí: các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố các bị cáo: Đinh Ngọc T, Lưu Đức Tphạm tội: “ iao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”;
2. Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 145; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 50 Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
2.1 Xử phạt: Đinh Ngọc T, Lưu Đức Thịnh: 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
2.2 Xử phạt: Lưu Đức Thịnh: 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
3. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Trần Thị Mỹ C và người đại diện hợp pháp bà Lâm Thị Mai đã nhận 30.000.000 đồng tiền khắc phục hậu quả của gia đình các các bị cáo và không yêu cầu gì khác về phần trách nhiệm dân sự nên không xem xét.
4. Về vật chứng: Cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố tân An đã trả lại toàn bộ vật chứng của vụ án cho chủ sở hữu nên không đề cập.
5. Về án phí sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Đinh Ngọc T, Lưu Đức Tmỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm sung ngân sách Nhà nước.
6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, đại diện hợp pháp bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chỉ có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình.
7. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Long An; (01) - Viện KSND tỉnh Long An; (01) - VKSND tp Tân An; (01) - Công an tp Tân An; (01) - Chi cục THADS tp Tân An; (01) - UBND phường 3, tp Tân An(nơi bị cáo cư trú); (01) - Sở Tư pháp tỉnh Long An; (01) - Bị cáo; (01) - đại diện hợp pháp người bị hại; (01) - Người bào chữa (01) - Người có QL,NV LQ (01) - Bộ phận THA hình sự; (07) - Lưu: hồ sơ vụ án, AV. (02) | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Ngọc Tuyến |