vanban.org

Bản án 71/2019/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Tân An, tỉnh Long An Tuyên án 07/10/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Vũ Tuấn Minh phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt: Vũ Tuấn Minh 03 (ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 (năm) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (08/10/2019). iao bị cáo Vũ Tuấn Minh cho Ủy ban nhân dân thị trấn Thạnh Mỹ, huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng tiếp tục giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Tuấn Minh vi phạm giao thông - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Vũ Tuấn Minh phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ TÂN AN
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 71/2019/HS-ST
Ngày: 08 - 10 - 2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN AN, TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Ngọc Tuyến.

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Nguyễn Văn Sở.

2/ Bà Nguyễn Thị Tĩnh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Cẩm Nhung - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Hồng Vi - Kiểm sát viên.

Trong ngày 08 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 72/2019/HSST ngày 13 tháng 9 năm 2019, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 64/2019/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 9 năm 2019 đối với:

Bị cáo Vũ Tuấn Minh, sinh năm: 1992 tại Hà Nam; Nơi ĐK NKTT: số 68A Phạm Ngọc Thạch, Tổ dân phố Nghĩa Hội, thị trấn Thạnh Mỹ, huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng; Nghề nghiệp: Tài xế; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn iáo: Thiên chúa; Cha ruột: Vũ Văn Hải, sinh năm 1969 (còn sống); Mẹ ruột: Nguyễn Thị Định, sinh năm: 1972 (còn sống); ia đình có 03 anh chị em ruột, bị cáo Minh là con lớn trong gia đình; Bản thân bị cáo Minh chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo được tại ngoại điều tra. Có mặt

- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Minh Châu, Luật sư Văn phòng luật sư An Châu thuộc Đoàn luật sư tỉnh Long An bào chữa cho bị cáo Vũ Tuấn Minh (có mặt)

- Bị hại:

1. Anh Hồ Quốc Thái, sinh năm 1991

Địa chỉ: Ấp 3, xã Mỹ An, huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An.

Người đại diện hợp pháp theo ủy quyền của bị hại Hồ Quốc Thái: ông Hồ Thanh Sơn, sinh năm 1969, theo văn bản ủy quyền ngày 19/6/2019 (vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp 3, xã Mỹ An, huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An.

2. Anh Phạm Văn Ý, sinh năm 1989 (vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp 1, xã Tân Đông, huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An.

3. Anh Phạm Thanh Trung, sinh năm 1986 (vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp 2, xã Mỹ An, huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An.

4. Anh Trình Công Khương, sinh năm 1994 (vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp 3, xã Mỹ An, huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An.

- Bị đơn dân sự: Công ty TNHH thương mại vận tải Đông Nhân Phát

Địa chỉ: 423/60/20 Tô Ký, khu phố 2, phường Trung Mỹ Tây, Quận 12, thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp theo pháp luật là bà Lê Thị Thúy Vinh – chức vụ giám đốc.

Người đại diện hợp pháp theo ủy quyền là ông Nguyễn Văn Dũng; Địa chỉ: 423/60/20 Tô Ký, khu phố 2, phường Trung Mỹ Tây, Quận 12, thành phố Hồ Chí Minh; Văn bản ủy quyền ngày 18/10/2018 (có mặt)

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Nguyễn Thị Đức, sinh năm 1965 (vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp 1, xã Tân Đông, huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An.

2. Anh Nguyễn Hải Anh, sinh năm 1964 (vắng mặt)

Địa chỉ: 104/4A Lê Hoàng Phái, phường 17, quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh.

3. Chị Phạm Thị Ngọc Hân, sinh năm 1996 (vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp Đông Hiệp, xã Tân Đông, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh.

4. Anh Nguyễn Văn Dũng, sinh năm 1973 (có mặt)

Địa chỉ: 423/60/20 Tô Ký, khu phố 2, phường Trung Mỹ Tây, quận 12, thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 23 giờ ngày 17/10/2018, Vũ Tuấn Minh điều khiển ô tô tải biển số 89K-7067 của Công ty TNHH Thương mại vận tải Đông Nhân Phát do anh Nguyễn Văn Dũng, sinh năm 1973 ngụ 423/60/20 Tô Ký, khu phố 2, phường Trung Mỹ Tây, Quận 12, thành phố Hồ Chí Minh là đại diện hợp pháp. Minh điều khiển xe ô tô tải trên, chở theo 45 chiếc xe mô tô xuất phát từ thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương để giao xe mô tô tại tỉnh Vĩnh Long. Khoảng 01 giờ 30 ngày 18/10/2018, khi Minh lưu thông đến Km 1945 + 900m Quốc lộ 1, thuộc xã Hướng Thọ Phú, thành phố Tân An, tỉnh Long An do ngủ gật, không chú ý quan sát nên để xảy ra va chạm với xe mô tô biển số 62F1-142.96 do anh Phạm Thanh Trung, sinh năm 1986 điều khiển chở phía sau anh Trình Công Khương, sinh năm 1986, cả hai cùng ngụ Ấp 2, xã Mỹ An, huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An lưu thông cùng chiều phía trước. Sau đó, xe ô tô tải biển số 89K-7067 tiếp tục va chạm vào xe mô tô biển số 51V3-3206 do anh Hồ Quốc Thái, sinh năm 1991, ngụ ấp 3, xã Mỹ An, huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An điều khiển phía sau chở Phạm Văn Ý, sinh năm 1989, ngụ ấp 1, xã Tân Đông, huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An lưu thông cùng chiều phía trước làm tai nạn xảy ra. Hậu quả anh Phạm Văn Ý và anh Hồ Quốc Thái bị thương nặng chuyển bệnh viện cấp cứu.

Tại biên bản khám nghiệm hiện trường vào lúc 02 giờ ngày 18/10/2018 xác định: Hiện trường của đoạn đường nơi xảy ra tai nạn: Nơi xảy ra tai nạn tại Km 1945 + 950m, tuyến tránh Quốc lộ 1, xã Hướng Thọ Phú, thành phố Tân An, Long An, mặt đường bê tông nhựa khô ráo, bằng phẳng, trục đường thẳng ở giữa có vạch sơn trắng không liên tục phân chia mặt đường thành hai phần đường xe chạy ngược chiều nhau mỗi bên rộng 5 m 50. hi nhận việc đánh số thứ tự theo số tự nhiên vị trí nạn nhân, phương tiện, tang vật, dấu vết: 1. Vết cày; 2. Vết cày; 3. Vết phanh; 4. Xe mô tô 62F1-142.96; 5. Xe ô tô tải 89K-7067; 6. Xe mô tô 51V3-3206. Xác định điểm mốc và một trong các mép đường nơi xảy ra tai nạn làm chuẩn. Chọn điểm mốc là trụ đèn số 85; Chọn mép đường bên phải Quốc lộ 1 (tuyến tránh) hướng từ Thành phố Hồ Chí Minh – Tiền iang làm chuẩn. Mô tả theo số thứ tự vị trí nạn nhân, phương tiện, tang vật, dấu vết. Trên tuyến tránh Quốc lộ 1, nhìn từ hướng thành phố Hồ Chí Minh – Tiền iang ghi nhận như sau:

1.Vết cày: 32 m 50, lỏm không liên tục, đầu vết cày cách lề chuẩn 1m30, cuối vết cày ngay vị trí gác chân trước bên phải xe mô tô 51V3-3206 (6);

2.Vết cày: dài 11 m 90, lõm không liên tục, đầu vết cày cách lề chuẩn 2 m 55 và cách đầu vết cày (1) 7 m 35, cuối vết cày ngay vị trí gác chân trước bên trái xe mô tô 62F1-142.96 (4);

3.Vết phanh: dài 20 m 60: đầu vết phanh ngay vị trí lề chuẩn và cách đầu vết cày (2) là 4 m25, cuối vết phanh ngay vị trí bánh xe trước bên phải xe ô tô tải 89K-7067 (5)

4. Xe mô tô 62F1-142.96: xe ngã nghiên sang trái, tâm trục bánh trước cách lề chuẩn 3m10; tâm trục bánh sau cách lề chuẩn 4m00.

5. Xe ô tô tải 89K-7067: xe đỗ đầu xe hướng về Tiền iang, đuôi xe hướng về thành phố Hồ Chí Minh, tâm trục bánh trước bên phải và tâm trục bánh sau bên phải ngay vị trí lề chuẩn.

6. Xe mô tô 51V3-3206: xe ngã nghiên sang phải, tâm trục bánh trước cách lề chuẩn 1m30; tâm trục bánh sau cách lề chuẩn 0m90. Điểm mốc cách đầu vết cày (1) đo vuông góc 7m35.

Tại biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến vụ tai nạn giao thông xác định xe ô tô biển số 89K- 7067; xe mô tô 51V3-3206 và xe mô tô biển số 62F1– 142.96 có những dấu vết: Xe ô tô biển số 89K- 7067: Biển số xe bị thụng vào trong, đèn đờmi phía trước bên phải và bên trái bị rơi khỏi vị trí ban đầu, giữa cản trước bị thụng móp vào trong, Cạnh phía trên của cản trước có dấu vết tróc sơn trắng, trầy xước trên diện rộng (36 x 7 cm) tâm cách đất 88 cm, cạnh phía dưới của cản trước có dấu vết có trầy xướt, tróc sơn trên diện rộng (85 x 15 cm) tâm cách đất 65 cm. Xe mô tô biển số 51V3-3206: Đầu tay cầm lái bên phải mài mòn cao su, mũi chắn bùn trước trầy xước, tróc sơn xanh, nhựa bảo vệ bộ phận giảm xóc bên trái bể, cánh bửng bên trái bị rời khỏi ví ban đầu, hệ thống đèn phía sau bể hoàn toàn, chắn bùn phía sau bể. Xe mô tô biển số 62F1-142.96: Đầu tay cầm lái bên trái mài mòn cao su, đầu cần số bị đẩy ngược ra sau, gác chân trước bên trái bị đẩy ngược ra sau, hệ thống đèn phía sau bể hoàn toàn, cản kim loại yên xe trầy xước, tróc sơn.

Đối với xe ô tô tải biển số 89K-7067 là của Công ty TNHH MTV Huy Phong làm chủ, sau đó Công ty TNHH TM Vận tải Đông Nhân Phát thuê lại và Công ty TNHH TM Vận tải Đông Nhân Phát ủy quyền cho Vũ Tuấn Minh nhận lại xe ô tô tải biển số 89K-7067. Ngày 03/8/2019 Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trao trả xe cho bị cáo Vũ Tuấn Minh.

Đối với xe mô tô biển số 62F1-142.96 do bà Nguyễn Thị Đức, sinh năm 1965 ngụ ấp 1, xã Tân Đông, huyện Thạnh Hóa, Long An đứng tên trong giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô. Bà Đức đã cho xe mô tô biển số 62F1-142.96 cho anh Phạm Thanh Trung (con trai bà) quản lý sử dụng. Ngày 03/8/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trao trả xe cho Phạm Thanh Trung.

Đối với xe mô tô biển số 51V3-3206 do anh Nguyễn Hải Anh, sinh năm 1964 ngụ số 104/4A Lê Hoàng Phái, phường 17, Quận ò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh đứng tên trong giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô nhưng đã bán lại cho anh Hồ Quốc Thái. Ngày 03/8/2019 Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trao trả xe cho Hồ Quốc Thái.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 04/TN T.19-PY ngày 18/4/2019 của Trung tâm pháp y tỉnh Long An kết luận tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của Hồ Quốc Thái là 98% (Chín mươi tám phần trăm).

Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 06/TN T.19-PY ngày 23/4/2019 của Trung tâm pháp y tỉnh Long An kết luận tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của Phạm Văn Ý là 67% (Sáu mươi bảy phần trăm).

Về trách nhiệm dân sự:

Đối với anh Hồ Quốc Thái, sau tai nạn, xe mô tô của anh Thái bị hư hỏng, anh Thái bị thương tích tỷ lệ 98%. Ông Hồ Thanh Sơn – người đại diện hợp pháp cho Hồ Quốc Thái yêu cầu Vũ Tuấn Minh bồi thường chi phí sửa chữa xe mô tô, tiền điều trị, tiền thuê người chăm sóc, tiền công lao động, tiền tổn thất tinh thần. Tổng cộng số tiền là 650.000.000 đồng (Sáu trăm năm mươi triệu đồng). Bị cáo Minh đồng ý và đã bồi thường xong số tiền trên cho ông Sơn. Ông Sơn không yêu cầu gì thêm.

Đối với anh Phạm Văn Ý, sau tai nạn xảy ra, anh Ý không bị thiệt hại về tài sản, nhưng bị thương tích tỷ lệ là 67%. Anh Ý yêu cầu Vũ Tuấn Minh bồi thường chi phí điều trị, tiền tổn thất tinh thần tổng cộng là 95.000.0000 đồng (Chín mươi lăm triệu đồng). Bị cáo Minh đồng ý và đã bồi thường xong số tiền trên cho anh Ý. Anh Ý không yêu cầu gì thêm.

Đối với anh Phạm Thanh Trung, sau tai nạn không bị thương tích, nhưng xe mô tô bị hư hỏng. Anh Trung yêu cầu Vũ Tuấn Minh bồi thường chi phí sửa chữa xe mô tô là 6.400.000 đồng (Sáu triệu bốn trăm ngàn đồng). Bị cáo Minh đồng ý và đã bồi thường xong số tiền trên cho anh Trung. Anh Trung không yêu cầu gì thêm.

Đối với anh Trình Công Khương, sau tai nạn không bị thương tích, không thiệt hại về tài sản, anh Khương không yêu cầu gì đối với Vũ Tuấn Minh, nên Cơ quan điều tra – Công an thành phố Tân An không đề cập đến.

Đối với anh Nguyễn Văn Dũng – người đại diện hợp pháp của Công ty TNHH TM Vận tải Đông Nhân Phát, sau tai nạn xe ô tô tải biển số 89K-7067 bị hư hỏng, anh Dũng không yêu cầu Vũ Tuấn Minh bồi thường chi phí sửa chữa nên Cơ quan điều tra – Công an thành phố Tân An không đề cập đến.

Bản Cáo trạng số 73/CT-VKS ngày 13/9/2019, Viện kiểm sát nhân thành phố Tân An, tỉnh Long An truy tố bị cáo Vũ Tuấn Minh về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm e khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ: Điểm e khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 65 Bộ luật Hình sự: Xử phạt Vũ Tuấn Minh 03 năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 năm.

Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đưa ra quan điểm về hình phạt bổ sung, trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng và tuyên án phí đối với bị cáo.

Luật sư Nguyễn Minh Châu bào chữa cho bị cáo trình bày: Thống nhất với tội danh và điều luật mà cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An đã truy tố, không tranh luận về phần tội danh và Điều luật, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét: Về nhân thân, bị cáo là người có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự, trong quá trình điều tra, bị cáo thật thà khai báo, ăn năn hối cải, khắc phục toàn bộ hậu quả theo yêu cầu của người bị hại, được người bị hại bãi nại, hoàn cảnh gia đình khó khăn, là lao động chính trong gia đình, bị cáo có 3 tình tiết giảm nhẹ ở khoản 1 Điều 51 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và đề nghị cho bị cáo được hưởng án treo như lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Trong phần tranh luận và lời nói sau cùng: Bị cáo Vũ Tuấn Minh chỉ xin giảm nhẹ hình phạt, xin hưởng án treo và không có tranh luận gì khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Điều tra Công an thành phố Tân An và Điều tra viên; của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố, cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người đại diện hợp pháp của người bị hại trong vụ án không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, Hội đồng xét xử xác định các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.

Về Hành vi phạm tội của bị cáo: Xét lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người tham gia tố tụng cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 01 giờ 30 phút, ngày 18/10/2018, bị cáo Minh điều khiển xe ô tô tải biển số 89K-7067 lưu thông trên Quốc lộ 1, hướng thành phố Hồ Chí Minh – Tiền iang. Khi đến Km 1945 + 900 m Quốc lộ 1, xã Hướng Thọ Phú, thành phố Tân An, Long An do không chú ý quan sát nên xảy ra va chạm với xe mô tô biển số 62F1-142.96 do anh Phạm Thanh Trung điều khiển chở theo Trình Công Khương lưu thông cùng chiều phía trước. Sau đó tiếp tục va chạm vào xe mô tô biển số 51V3-3206 do anh Hồ Quốc Thái chở theo phía sau Phạm Văn Ý đang lưu thông cùng chiều phía trước làm tai nạn xảy ra. Hậu quả anh Phạm Văn Ý bị thương tích 67% và anh Hồ Quốc Thái bị thương tích 98%.

Hành vi nêu trên của bị cáo Vũ Tuấn Minh điều khiển xe ô tô thiếu chú ý quan sát, đã vi phạm khoản 23 Điều 8 Luật iao thông đường bộ, gây nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm trật tự công cộng, gây thiệt hại sức khỏe người khác và đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, tội phạm, hình phạt được quy định tại điểm e khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự. Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An truy tố bịcáo theo bản Cáo trạng số 73/CT-VKSTA-HS ngày 13/9/2019 là hoàn toàn có căn cứ pháp lý, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra thể hiện bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; sau khi phạm tội bị cáo đã tích cực khắc phục hậu quả bằng việc bồi thường toàn bộ thiệt hại cho người bị hại, được đại diện người bị hại chấp nhận và có đơn bãi nại cho bị cáo; tại phiên tòa bị cáo xuất trình đơn xin giảm nhẹ hình phạt vì hoàn cảnh gia đình khó khăn, bị cáo là lao động chính trong gia đình, gia đình bị cáo có công với cách mạng, bị cáo có ông ngoại được tặng thưởng huân chương kháng chiến, bản thân bị cáo Minh có thời gian phục vụ trong quân đội, được cấp giấy khen có thành tích xuất sắc; nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Từ nhận định trên cho thấy bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội với lỗi vô ý, được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, có công việc làm thu nhập ổn định. Do vậy, sau khi xem xét đầy đủ và toàn diện các tình tiết của vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy không cần phải cách ly bị cáo khỏi xã hội mà cần áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự cho bị cáo hưởng án treo có sự giám sát của chính quyền nơi bị cáo cư trú cũng đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo thành công dân tốt và phòng ngừa chung theo lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và luật sư tại phiên Tòa.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, phạm tội với lỗi vô ý nên Hội đồng xét xử thống nhất miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: sau tai nạn, xe mô tô của anh Thái bị hư hỏng và anh Thái bị thương tích tỷ lệ 98%. Ông Hồ Thanh Sơn – người đại diện hợp pháp cho Hồ Quốc Thái yêu cầu Vũ Tuấn Minh bồi thường chi phí sửa chữa xe mô tô, tiền điều trị, tiền thuê người chăm sóc, tiền công lao động, tiền tổn thất tinh thần. Tổng cộng số tiền là 650.000.000 đồng (Sáu trăm năm mươi triệu đồng). Bị cáo Minh đồng ý và đã bồi thường xong số tiền trên cho ông Sơn. Ông Sơn không yêu cầu gì thêm. Đối với anh Phạm Văn Ý, sau tai nạn xảy ra không bị thiệt hại về tài sản, nhưng bị thương tích tỷ lệ là 67%. Anh Ý yêu cầu Vũ Tuấn Minh bồi thường chi phí điều trị, tiền tổn thất tinh thần tổng cộng là 95.000.0000 đồng (Chín mươi lăm triệu đồng). Bị cáo Minh đồng ý và đã bồi thường xong số tiền trên cho anh Ý. Anh Ý không yêu cầu gì thêmđã làm đơn bãi nại cho bị cáo Vũ Tuấn Minh. Nay không ai có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về vật chứng vụ án: Đối với xe ô tô tải biển số 89K-7067 là của Công ty TNHH MTV Huy Phong làm chủ, sau đó Công ty TNHH TM Vận tải Đông Nhân Phát thuê lại và Công ty TNHH TM Vận tải Đông Nhân Phát ủy quyền cho Vũ Tuấn Minh nhận lại xe ô tô tải biển số 89K-7067. Ngày 03/8/2019 Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trao trả xe cho bị cáo Vũ Tuấn Minh.

Đối với xe mô tô biển số 62F1-142.96 do bà Nguyễn Thị Dức, sinh năm 1965 ngụ ấp 1, xã Tân Đông, huyện Thạnh Hóa, Long An đứng tên trong giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô. Bà Dức đã cho xe mô tô biển số 62F1-142.96 cho anh Phạm Thanh Trung (con trai bà) quản lý sử dụng. Ngày 03/8/2019 Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trao trả xe cho Phạm Thanh Trung.

Đối với xe mô tô biển số 51V3-3206 do anh Nguyễn Hải Anh, sinh năm 1964 ngụ số 104/4A Lê Hoàng Phái, phường 17, Quận ò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh đứng tên trong giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô nhưng đã bán lại cho anh Hồ Quốc Thái. Ngày 03/8/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trao trả xe cho Hồ Quốc Thái. Tất cả các phương tiện liên quan đến vụ án đã được cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu nên không đặt ra xem xét.

Đối với vật chứng là giấy phép lái xe số: 720140006910 mang tên Vũ Tuấn Minh cần trả lại cho bị cáo (vật chứng đang lưu trong hồ sơ vụ án).

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Vũ Tuấn Minh phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

2. Căn cứ vào điểm e khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 65 Bộ luật Hình sự.

3. Xử phạt: Vũ Tuấn Minh 03 (ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 (năm) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (08/10/2019).

iao bị cáo Vũ Tuấn Minh cho Ủy ban nhân dân thị trấn Thạnh Mỹ, huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng tiếp tục giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước tổng hợp với hình phạt của bản án mới.

4. Về vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: trả lại cho bị cáo Vũ Tuấn Minh 01 giấy phép lái xe số: 720140006910 mang tên Vũ Tuấn Minh (vật chứng đang lưu trong hồ sơ vụ án).

5. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội: Buộc bị cáo Vũ Tuấn Minh phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chỉ có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình.

7. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ