- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Ho - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 251 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI TỈNH LÀO CAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 71/2019/HS-ST Ngày 16-9-2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI, TỈNH LÀO CAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễ n Thá i Hà .
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông: Nguyễ n Thanh Sở .
Ông: Lục Văn Vãn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lưu T hị Hải Yến -Thư ký t òa án nhân dân thành phố Lào Cai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễ n Hả i Bằ ng- Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 9 năm 2019, tại hộ i trườ ng xé t xử số 1, trụ sở tòa án nhân dân thành phố L , tỉnh Lào Cai , mở phiên tò a xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 75/2019/TLST-HS ngày 20 tháng 8 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 77/2019/QĐXXST-HS ngày 4 tháng 9 năm 2019 đối với bị cáo:
Nguyễ n Văn H, sinh năm 1994, tại huyệ n B, tỉnh Lào Cai ; ĐKHKTT và nơi ở: Thôn N, xã G, huyệ n B, tỉnh Lào Cai; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việ t Nam; con ông Nguyễ n Văn C , sinh năm 1969 và bà Đặng Thị H , sinh năm 1970, trú tại Thôn N, xã G, huyệ n B, tỉnh Lào Cai; bị cáo chưa có vợ nhưng số ng chung không đăng ký kế t hôn vớ i chị Ngô Thị Th, sinh năm 1991; tiền án: Không; tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 27 tháng 6 năm 2019. Hiệ n đang bị tạ m giam tạ i nhà tạm giữ Công an thành phố L. Có mặt.
Người chứng kiế n: Ông Bùi Văn Th, sinh năm 1958.
Đị a chỉ: Tổ 27, phườ ng K, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Vắ ng mặ t.
Chị: Nguyễ n Thị Thu H, sinh năm 1995.
Đị a chỉ: Tổ 28A, phườ ng Ph, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15 giờ ngày 27 tháng 06 năm 2019, Nguyễn Văn H điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 19 F1-275.87 đi đưa hàng ăn nhanh cho quán của chị Nguyễn Thị Thu H, khi đi đến trước cửa khách sạn Đ thuộc tổ 8, phường C, thành phố L thì gặp một người nữ giới tên Quỳnh A (Không rõ họ, địa chỉ) hỏi Nguyễn Văn H mua 02 (Hai) chỉ ma túy ke và 10 (Mười) viên ma túy kẹo. H nói giá là 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng), Quỳnh A đồng ý và hẹn 15 giờ 30 phút cùng ngày gặp nhau ở trước cửa khách sạn Đ để mua bán ma túy. Sau đó H điều khiển xe mô tô đến khu vực cây xăng trên đường Thủ Dầu 1 thuộc phường D, thành phố L gặp một người nam giới tên V (Không rõ họ, địa chỉ) mua 02 (Hai) chỉ ma túy ke với giá là 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng) và 10 (Mười) viên ma túy kẹo với giá 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng). H cất giấu toàn bộ số ma túy trên vào vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long rồi kẹp vào giá để đồ phía trước yên xe mô tô, điều khiển xe đến trước cửa khách sạn Đ để bán ma túy cho Quỳnh A. Đến 15 giờ 45 phút ngày 27 tháng 6 năm 2019, H điề u khiể n xe mô tô đế n cửa khách sạn Đ thuộ c tổ 8, phườ ng C, thành phố L, tỉnh Lào Cai thì bị tổ công tác đội Cảnh sát ma túy Công an thành phố Lào Cai kiểm tra, phát hiện và bắt quả tang, tang vật thu giữ 01 (Một) vỏ bao thuốc lá màu vàng, nhãn hiệu Thăng Long bên trong chứa: 02 (Hai) túi nilon màu trắng, viền màu xanh, được miết kín một đầu bên trong hai túi nilon này chứa các hạt tinh thể rắn, màu trắng và 02 (Hai) túi nilon màu trắng, viền màu xanh, được miết kín một đầu bên trong mỗi túi nilon này đều chứa 05 (Năm) viên nén hình tròn, màu cam, trên một mặt của mỗi viên nén đều được dập nổi hình ngôi sao sáu cánh. H khai nhận toàn bộ vật chứng bị thu giữ là ma túy cất giấu với mục đích để bán kiếm lời. Ngoài ra còn thu giữ 01 (Một) chiếc xe mô tô biển kiểm soát 19 F1-275.87; 01 (Một) chứng minh nhân dân mang tên Nguyễ n Văn H; 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus màu vàng; 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi màu vàng; 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Viwa màu trắng.
Tại bản kết luận giám định số 169/GĐMT ngày 29 tháng 6 năm 2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai kết luận: Bì 1: M1: 1,36 gam cá c hạt tinh thể rắn, màu trắng gử i giá m đị nh là loạ i chấ t ma tú y Ketamine; Bì M2: 3 gam cá c viên né n hì nh trụ trò n , màu cam, trên mộ t mặ t mỗ i viên né n đề u đượ c dậ p nổi hình ngôi sao sáu cánh gửi giám định là loại chất ma túy MDMA.
Tại bản cáo trạng số 77/CT-VKS ngà y 18 tháng 8 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, truy tố đố i vớ i Nguyễ n Văn H về tộ i “Mua bá n trái phép chất ma túy’ theo quy đị nh tạ i khoả n 1 Điề u 251 Bộ luậ t hì nh sự .
Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễ n Văn H phạm tội “Mua bá n trái phép chấ t ma tú y”. Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoả n 1 Điề u 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễ n Văn H mức án từ 4 năm đế n 4 năm 6 tháng tù.
Áp dụng điểm a, c khoả n 1 Điề u 47 Bộ luậ t hì nh sự ; điể m a khoả n 2 và điể m a khoả n 3 Điề u 106 Bộ luậ t tố tụ ng hì nh sự . Tịch thu tiêu hủy: 1,12 gam ma tú y Ketamine và 2,4 gam ma tú y MDMA đự ng trong bì thư in sẵ n củ a Phò ng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai.
Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước của bị cáo Nguyễn Văn H 01 (Mộ t) chiế c điệ n thoạ i di độ ng nhã n hiệ u Viwa, màu trắng.
Trả lại cho bị cáo 01 (Mộ t) chiế c chứ ng minh thư nhân dân mang tên
Nguyễ n Văn H.
Tuyên án phí và quyền kháng cáo đối với bị cáo theo quy định pháp luật.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố Lào Cai, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai của bị cáo Nguyễ n Văn H tại cơ quan điề u tra và tạ i phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điề u tra, biên bả n bắ t ngườ i phạ m tộ i quả tang, biên bả n thu giữ vậ t chứ ng, biên bả n khá m xé t nơi ở , lờ i khai ngườ i làm chứng, bản kết luận giám đị nh số 169/GĐMT, ngày 29 tháng 6 năm 2019 của phòng kỹ thuật hình sự C ông an tỉ nh Lào Cai, các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ á n đượ c thẩ m tra tạ i phiên tò a. Như vậ y, có căn cứ xác định ngày 27 tháng 6 năm 2019, bị cáo Nguyễ n Văn H mua 3 gam chấ t ma tú y MDMA và 1,36 gam chấ t ma tú y Ketamine mục đích bán kiếm lời . Hành vi của bị cáo đã xâm phạ m đến chính sách độc quyền quản lý các chấ t ma tú y củ a Nhà nướ c . Hộ i đồ ng xé t xử kế t luậ n bị cá o Nguyễ n Văn H phạm tội “ Mua bá n trái phép chất ma túy” theo quy đị nh tạ i khoản 1 Điề u 251 Bộ luậ t hì nh sự .
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáoNguyễ n VănH không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Hội đồng xét xử nhậ n đị nh trong quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về áp dụng hình phạt đối với bị cáo: Hộ i đồ ng xé t xử xé t thấ y bị cáo nhậ n thứ c hiể u biế t phá p luậ t Nhà nước cấm cá nhân, tổ chứ c tà ng trữ , mua bá n, sử dụ ng hoặ c chiế m đoạ t chấ t ma tú y , nhậ n thứ c đượ c tá c hạ i củ a chấ t ma tú y nhưng bị cá o vẫ n mua chấ t ma tú y mục đích để bán kiếm lời. Điề u đó cho thấ y bị cáo không ý thức tôn trọ ng phá p luậ t , tu dưỡ ng rè n luyệ n bả n thân , nên cầ n xét xử mức án phù hợp tương xứng vớ i tính chất mức đ ộ hành vi phạm tộ i để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt cho gia đình và xã hộ i. Xét thấy bị cáo không có tài sản khả năng thi hành nên không á p dụ ng hì nh phạ t bổ sung phạt tiền đối với bị cáo.
Về vậ t chứ ng: Cơ quan điề u tra đã thu giữ củ a bị cá o 1,36 gam ma tú y Ketamine, trích lưu mẫu giám định là 0,24 gam và thu giữ 3 gam MDMA, trích lưu mẫ u giá m đị nh nên không đề cậ p giả i quyế t . Số cò n lạ i là 1,12 gam ma túy Ketamine và 2,4 gam ma túy MDMA đượ c niêm phong bằ ng bì thư in sẵ n , cầ n tịch thu tiêu hủy theo quy định củ a phá p luậ t.
Đối với 01 (Mộ t) chiế c điệ n thoạ i di độ ng nhã n hiệ u Viwa là tài sản của bị cáo, bị cáo thừa nhận sử dụng làm phương tiện để trao đổi mua bá n ma tú y nên cầ n tị ch thu nộ p ngân sá ch Nhà nước theo quy đị nh pháp luật.
Đối với 01 chiế c chứ ng minh thư nhân dân mang tên Nguyễ n Văn H là giấ y tờ tù y thân hợ p phá p của bị cáo , xét thấy cần trả lại cho bị cáo 01 chiế c chứ ng minh thư nhân dân mang tên Nguyễ n Văn H theo quy đị nh phá p luậ t.
Đối với chiếc xe mô tô biển kiểm soát 19 F1-275.87; 01 (Một) chiế c điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus, màu vàng; 01 (Một) chiế c điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi, màu vàng. Quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của chị Nguyễn Thị Thu H. Chị H giao những tài sản trên cho H dùng với mục đích để đi giao hàng, H dùng xe mô tô biển kiểm soát 19 F1-275.87 để đi mua bán ma túy, chị H không biết và không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại những tài sản trên cho chị Nguyễn Thị Thu H là phù hợp nên không đề cậ p giả i quyế t.
Trong vụ á n : Bị cáo Nguyễn Văn H khai đối với người nữ giớ i tên là Quỳnh A hỏi mua ma tú y của Nguyễ n Văn H và người tên là V bán ma tú y cho bị cáo. Ngoài lời khai của bị cáo không có tài liệu khác chứng minh. Do vậ y, khi nào điều tra xác minh làm rõ xử lý sau.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tuyên bố bị cáo Nguyễ n Văn H phạm tội “Mua bá n trá i phé p chấ t ma tú y” , xử phạt bị cáo Nguyễ n Văn H 4 (Bố n) năm tù. Thời gian chấp hành án tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngà y 27 tháng 6 năm 2019.
Về vậ t chứ ng: Căn cứ điể m a, c khoản 1 Điề u 47 Bộ luậ t hì nh sự ; điể m a khoản 2 và điểm a khoản 3 Điề u 106 Bộ luật tố tụng hình sự . Tịch thu tiêu hủ y gồ m: 1,12 gam ma tú y Ketamine và 2,4 gam ma tú y MDMA đự ng trong bì thư in sẵ n củ a Phò ng kỹ thuậ t hì nh sự Công an tỉ nh Là o Cai . Tại các mép của bì thư có chữ ký của hai bên giao nhận , 02 hình dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai . Trên mộ t mặ t củ a bì thư có ghi “ Vậ t chứ ng cò n lại sau trích mẫu giá m đị nh thu trong vụ Nguyễ n Văn H ngày 27 tháng 06 năm 2019 tại tổ 8, phườ ng Cố c Lế u, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai”.
Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước của bị cáo Nguyễn Văn H 01 (Mộ t) chiế c điệ n thoạ i di độ ng nhã n hiệ u Viwa, màu trắng.
Trả lại cho bị cáo 01 (Mộ t) chiế c chứ ng minh thư nhân dân mang tên
Nguyễ n Văn H.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Nguyễ n Văn H phải chịu số tiền là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
N¬i nhËn:
| - TAND tỉnh; - VKSND tỉnh, TP; - CATP; - Bị cáo; - Chi cục THATP; - Sở tư phá p; - Hồ sơ CA TP; - Lưu hồ sơ vụ án. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thái Hà |