vanban.org

Bản án 71/2019/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên Tuyên án 07/11/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc S, phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ (ngày 03/6/2019). Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Ngọc Sơn phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc S, phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự trả lại
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ Đ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐIỆN BIÊN
Bản án số: 71/2019/HS-ST
Ngày 07 -11 - 2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ Đ, TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Bằng

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lò Thị Dỉnh

Bà Cao Thị Hồng Minh

- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Minh Thắng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đ, tỉnh Điện Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ tham gia phiên toà: Bà Trịnh Thị Duyên - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đ, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 62/2019/HSST ngày 18 tháng 9 năm 2019, quyết định đưa vụ án ra xét xử số:

72/2019/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 10 năm 2019, đối với bị cáo: Họ và tên: Nguyễn Ngọc S (tên gọi khác: Không); Sinh năm: 1960; Nơi sinh: Tại tỉnh Thái Bình; Nơi ĐKHKTT: Phường S, thị xã M, tỉnh Điện Biên; Chỗ ở trước ngày bị bắt: Bản N, phường N, thành phố Đ, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 07/10; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Ngọc Đ (đã chết) và bà Nguyễn Thị U - Sinh năm 1938; vợ Trịnh Thị H (đã ly hôn); Bị cáo có 02 người con, con lớn sinh năm 1990, con nhỏ sinh năm 2002. Tiền án, tiền sự: Không; Đặc điểm nhân thân: Ngày 22/12/2005, bị cáo bị Tòa án nhân dân thị xã Mường Lay, tỉnh Điện Biên xử phạt 24 tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy (theo bản án hình sự sơ thẩm số 41/2005/HSST). Bị cáo chấp hành xong toàn bộ bản án ngày 02/11/2011, bị cáo không có án tích nhưng là người có nhân thân xấu.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 03/6/2019 đến ngày 12/6/2019 thì bị tạm giam đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên toà.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Trịnh Thị H - Sinh năm: 1963. Nơi cư trú: Bản N, phường N, thành phố Đ, tỉnh Điện Biên (Có đơn xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ 25 phút, ngày 03/6/2019, tại khu vực bản K, phường N, thành phố Đ, tỉnh Điện Biên, tổ công tác đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy, Công an thành phố Đ, phát hiện Nguyễn Ngọc S điều khiển xe mô tô BKS 27P1 - 016.81 có dấu hiệu phạm tội ma túy. Tổ công tác đã áp sát, kiểm tra đối với bị cáo và phát hiện trong túi quần sau bên trái bị cáo đang mặc có 01 viên nén màu hồng được gói bằng giấy bạc màu vàng. Bị cáo khai viên nén màu hồng là hồng phiến, bị cáo mua được ở bản Xôm, xã Thanh An, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên của một người đàn ông (bị cáo không biết tên, tuổi, địa chỉ) với giá 50.000đ nhằm mục đích sử dụng cho bản thân.

Tại Bản kết luận giám định số 556/GĐ-PC09 ngày 08/6/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên, kết luận: Mẫu viên nén màu hồng ký hiệu M gửi giám định là chất ma túy: loại Methamphetamine; khối lượng vật chứng ký hiệu M là 0,1 gam. Methamphetamine nằm trong danh mục các chất ma túy, STT: 323, Mục IIC, Danh mục II, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018. Hoàn lại đối tượng giám định là 0,08 gam.

Tại Bản cáo trạng số: 59/CT- VKSTPĐBP ngày 16/9/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ, tỉnh Điện Biên truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại giai đoạn điều tra, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trịnh Thị H, trình bày: Ngày 03/6/2019, bà có cho ông Nguyễn Ngọc S mượn chiếc xe mô tô BKS 27P1 - 016.81, với mục đích để đi lại, giải quyết việc cá nhân, bà không biết bị cáo mượn xe để đi mua ma túy. Bà đã nhận lại chiếc xe mô tô, chiếc xe không bị hư hỏng nên bà không yêu cầu ông Nguyễn Ngọc S phải bồi thường.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ, tỉnh Điện Biên giữ quyền công tố, giữ nguyên quan điểm truy tố và khẳng định hành vi trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo từ 15 đến 18 tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có việc làm ổn định, không có tài sản riêng nên không có khả năng thi hành hình phạt bổ sung, đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự: Tịch thu tiêu hủy 0,08 g (không phẩy không tám gam) Methamphetamine (còn lại sau giám định) và 01 (một) mảnh giấy bạc màu vàng.

Về án phí: Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 2 Điều 136 của BLTTHS năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo nhất trí với quyết định truy tố của Viện kiểm sát và không có tranh luận gì với lời luận tội của Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng của bị cáo trước khi HĐXX nghị án: Bị cáo đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về sự vắng mặt của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Trịnh Thị H có đơn xin xét xử vắng mặt. Xét thấy trong quá trình điều tra người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã có đầy đủ lời khai trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự, xét xử vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định của pháp luật.

. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo, của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong quá trình điều tra và tại phiên tòa cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ xác định: Vào hồi 13 giờ 25 phút ngày 03/6/2019 tại khu vực bản K, phường N, thành phố Đ, tỉnh Điện Biên, Nguyễn Ngọc S đã cất giấu trái phép trên người 0,1 gam Methamphetamine với mục đích để sử dụng. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Bởi vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ đã truy tố và kết luận bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS là có căn cứ, đúng pháp luật, bị cáo không bị oan.

. Về tính chất, mức độ, động cơ hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được tác hại của ma túy đối với bản thân và cộng đồng cũng như nhận thức được chính sách pháp luật hình sự của nhà nước đối với những hành vi mua bán, tàng trữ ... trái phép chất ma túy nhưng để thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy của bản thân, bị cáo đã bất chấp các quy định của pháp luật, cố ý thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của nhà nước mà còn ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự trên địa bàn thành phố Đ. Do vậy, cần phải áp dụng một mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục và phòng ngừa tội phạm.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về nhân thân: Ngày 22/12/2005, bị cáo bị Tòa án nhân dân thị xã Mường Lay, tỉnh Điện Biên xử phạt 24 tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy (theo bản án hình sự sơ thẩm số 41/2005/HSST), ngày 02/11/2011 bị cáo chấp hành xong toàn bộ bản án, đến ngày thực hiện hành vi phạm tội (ngày 03/6/2019) bị cáo không có tiền án, tiền sự nhưng là người có nhân thân xấu.

Tại giai đoạn điều tra, cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Xét tính chất, mức độ, động cơ hành vi phạm tội của bị cáo và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Hội đồng xét xử thấy rằng, mặc dù bị cáo đã từng phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy nhưng đã được xóa án tích nên được coi như chưa bị kết án, trong quá trình điều tra, truy tố xét xử, bị cáo thành khẩn khai báo, bản thân bị cáo đã lớn tuổi nhưng do nghiện ma túy (một tệ nạn xã hội) nên mới tàng trữ ma túy để sử dụng cho bản thân chứ không có mục đích nào khác, khối lượng ma túy bị cáo tàng trữ là 0,1gam Methamphetamine. Chính vì Vậy Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo từ 15 đến 18 tháng tù là cao chưa phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo.

. Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị phạt tiền theo quy đinh tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự, tuy nhiên xét bị cáo không có việc làm ổn định, không có tài sản riêng có giá trị nên không có khả năng thi hành án. Do vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

. Về các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

Trong hồ sơ vụ án còn thể hiện: Bị cáo mua ma túy của một người đàn ông nhưng không biết tên, địa chỉ nên không có cơ sở xem xét, giải quyết trong vụ án.

Về trách nhiệm dân sự: người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Trịnh Thị H đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết trong vụ án.

Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự: Tịch thu, tiêu hủy: 0,08 g (không phẩy không tám gam) Methamphetamine (còn lại sau giám định); 01 (một) mảnh giấy bạc màu vàng.

(Theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 18/9/2019 giữa cơ quan cảnh sát điều tra, Công an thành phố Đ và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đ).

Đối với chiếc xe máy Wave α nhãn hiệu Honda, màu hồng đeo BKS 27P1 - 016.81, số khung RLHHC09027Y289438, số máy HC09E - 5390332, kèm 01 chìa khóa của xe, là tài sản của bà Trịnh Thị H, cơ quan cảnh sát điều tra, Công an thành phố Đ căn cứ Điều 36 và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự trả lại cho chủ sở hữu bà Trịnh Thị H là đúng quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

(Theo biên bản về việc trả lại đồ vật, tài liệu ngày 27/8/2019 giữa cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố Đ và bà Trịnh Thị H).

. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của BLTTHS và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự;

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc S, phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ (ngày 03/6/2019).

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự:

Tịch thu, tiêu hủy: 0,08 g (không phẩy không tám gam) Methamphetamine (còn lại sau giám định); 01 (một) mảnh giấy bạc màu vàng.

(Theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 18/9/2019 giữa cơ quan cảnh sát điều tra, Công an thành phố Đ và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đ).

Chấp nhận việc trả lại tài sản cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trịnh Thị H của cơ quan cảnh sát điều tra, công an thành phố Đ.

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14, Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 07/11/2019).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc ngày Bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ