- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Phi L - Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS n…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Phi L phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 71/2019/HS-ST Ngày: 23/7/2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Quang Dũng
Các hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Quang Nhiên
Ông Lâm Văn Vô
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên toà: Ông Phan Văn Dần – Thư ký Toà án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Phương Thảo - Kiểm sát viên.
Hôm nay, ngày 23 tháng 7 năm 209, tại trụ sở Toà án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 69/2019/HSST ngày 12/6/2019, quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 84/2019/HSST-QĐ ngày 09 tháng 7 năm 2019 đối với bị cáo:
Trần Phi L, sinh ngày 26 tháng 12 năm 1988 tại: Thành phố Hồ Chí Minh; giới tính: Nam; Thường trú: 12/1 BCG, Phường MB, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Chạy xe ôm; Học vấn: 01/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần Văn Be (chết); con bà: Lê Thị Bông; Có vợ tên: Ngô Thị Ngọc Hà (không đăng ký kết hôn); có 02 người con, lớn nhất sinh năm 2008, nhở nhất sinh năm 2010; Tiền án: Không; Tiền sự: Ngày 30/3/2017, bị Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/02/2019 (có mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 02 giờ 45 phút ngày 18/02/2019, tổ tuần tra 363 Công an Quận 5 phát hiện Trần Phi L đang điều khiển xe gắn máy LUVIAS biển số 60B3-272.35 chở Võ Huỳnh Duy tại khu vực giao lộ Lượng Nhữ Học – Hồng Bàng, Phường 11, Quận 5 có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. Qua kiểm tra phát hiện trong túi quần trước bên trái của L có một cái bóp, bên trong có 01 gói nylon chứa tinh thể không màu. Qua làm việc ban đầu, L khai là ma túy nên tổ tuần tra đã bàn giao L và Duy cùng tang vật đến Công an Phường 11, Quận 5 lập biên bản phạm tội quả tang đối với Trần Phi L.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Trần Phi L đã khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên. L khai mua ma túy từ một người đàn ông không rõ lai lịch tại khu vực cầu Nguyễn Văn Cừ, Phường 1, Quận 5 với giá 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) để sử dụng và không nói cho Duy biết mình cất giấu số ma túy này trong người.
Đối với Võ Đình Duy, Duy không biết việc Trần Phi L tàng trữ trái phép chất ma túy nên không có căn cứ để xử lý.
Đối với đối tượng không rõ lai lịch đã bán ma túy cho bị cáo L để sử dụng, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Quận 5 đang tiếp tục điều tra làm rõ, khi nào đủ căn cứ sẽ xử lý sau.
Vật chứng thu giữ:
01 (một) gói nylon chứa tinh thể không màu., qua giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,8404g (không phẩy tám bốn không bốn gam) loại Methamphetamine. Sau giám định còn lại được gói trong 01 (một) gói niêm phong số 578/2019/Q5 bên ngoài có chữ ký của giám định viên Trần Đình Hải và điều tra viên Ngô Hồng Quân;
01 (một) xe gắn máy màu trắng bạc hiệu Yamaha Luvias, biển số 60B3 – 272.35. Qua giám định, số khung và số máy xe bị mài đục số, không xác định được số khung, số máy nguyên thủy. Tiến hành xác minh theo biển số biển số 60B3 – 272.35 thì số khung là: RLCL1SK10EY015456, số máy là: 1SK1015473.
01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung màu đen có số Imei: 358465/09/622193/5 (có sim); 01 (một) cái bóp màu nâu;
Tại bản Kết luận giám định số 578/KLGĐ-H ngày 26 tháng 2 năm 2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh kết luận:
Tinh thể không màu trong 01 gói Nylon được niêm phong bên ngoài có dấu chữ ký ghi tên Trần Phi L và hình dấu Công an Phường 11, Quận 5 là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,8404g (không phẩy tám bốn không bốn gam) loại Methamphetamine.
Bản cáo trạng số: 72/CT-VKSQ5 ngày 10/6/2019 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Trần Phi L về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5 giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Bị cáo Trần Phi L đã có hành vi cất giữ trái phép chất ma túy với khối lượng là 0,8404g (không phẩy tám bốn không bốn gam) loại Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Trần Phi L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c Khoản 1 Điều 249; điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Trần Phi L với mức án từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù; về vật chứng xử lý theo quy định của pháp luật.
Bị cáo Trần Phi L không có ý kiến tự bào chữa, tranh luận và nói lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận 5, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Tại phiên tòa công khai, bị cáo Trần Phi L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận, bị cáo Trần Phi L đã có hành vi cất giữ trái phép 0,8404g (không phẩy tám bốn không bốn gam) loại Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng là đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xét bị cáo là người có năng lực hành vi, đủ khả năng nhận thức được việc làm của mình, biết việc tàng trữ trái phép chất ma túy là hành vi vi phạm pháp luật mà Nhà nước nghiêm cấm, nhưng bị cáo bất chấp pháp luật tàng trữ chất ma túy nhằm mục đích sử dụng để thỏa mãn cơn nghiện.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến những quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, gây nghiện và độc hại; gây mất trật tự xã hội ở địa phương, còn là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác. Do đó, cần phải có một mức án nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo; nhằm mục đích giáo dục bị cáo, đồng thời có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, cần xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Về hình phạt áp dụng đối với bị cáo: Căn cứ Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo phạm tội có nhân thân xấu và từng bị bắt đưa đi cai nghiện bắt buộc một thời gian nhưng vẫn chưa từ bỏ việc sử dụng ma túy, nên cần phải buộc bị cáo chấp hành hình phạt tù một thời gian nhất định, để bị cáo có thể cai nghiện ma túy và cải tạo thành người có ích cho xã hội, đồng thời đủ sức răn đe đối với những người khác có hành vi tương tự.
Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” không hưởng lợi và có hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
Đối với Võ Đình Duy, Duy không biết việc Trần Phi L tàng trữ trái phép chất ma túy nên không có căn cứ để xử lý.
Đối với đối tượng không rõ lai lịch đã bán ma túy cho bị cáo L để sử dụng, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Quận 5 đang tiếp tục điều tra làm rõ, khi nào đủ căn cứ sẽ xử lý sau.
Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố để xét xử và đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo Trần Phi L là có cơ sở pháp luật, đúng người, đúng tội, không oan sai.
Về xử lý vật chứng:
01 (một) gói nylon chứa tinh thể không màu, qua giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,8404g (không phẩy tám bốn không bốn gam) loại Methamphetamine. Sau giám định còn lại được gói trong 01 (một) gói niêm phong số 578/2019/Q5 bên ngoài có chữ ký của giám định viên Trần Đình Hải và điều tra viên Ngô Hồng Quân. Xét đây là vật phạm pháp, Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.
01 (một) xe gắn máy màu trắng bạc hiệu Yamaha Luvias, biển số 60B3 – 272.35. Qua giám định, số khung và số máy xe bị mài đục số, không xác định được số khung, số máy nguyên thủy. Tiến hành xác minh theo biển số biển số 60B3 – 272.35 thì số khung là: RLCL1SK10EY015456, số máy là: 1SK1015473. Xét đây là tài sản bị cáo có được không rõ nguồn gốc và không đủ điều kiện lưu hành nên sung quỹ Nhà nước.
01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung màu đen có số Imei: 358465/09/622193/5 (có sim); Xét đây là tài sản cá nhân của bị cáo, không dùng vào việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo.
01 (một) cái bóp màu nâu. Xét đây là vật dụng cá nhân của bị cáo L nhưng sử dụng cất giấu ma túy và không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c Khoản 1 Điều 249; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50, Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Tuyên bố bị cáo Trần Phi L phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Xử phạt bị cáo Trần Phi L 02 (hai) năm tù.
Thời hạn tù tính từ ngày 18 tháng 02 năm 2019.
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) gói nylon chứa tinh thể không màu, qua giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,8404g (không phẩy tám bốn không bốn gam) loại Methamphetamine. Sau giám định còn lại được gói trong 01 (một) gói niêm phong số 578/2019/Q5 bên ngoài có chữ ký của giám định viên Trần Đình Hải và điều tra viên Ngô Hồng Quân.
Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 (một) xe gắn máy màu trắng bạc hiệu Yamaha Luvias, số khung và số máy xe bị mài đục số, không xác định được số khung, số máy nguyên thủy (xe hiện có gắn biển số 60B3-272.35).
Trả lại cho bị cáo Trần Phi L 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung màu đen có số Imei: 358465/09/622193/5 (có sim);
Tịch thu tiêu hủy 01 (một) cái bóp màu nâu.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 30/5/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh).
Bị cáo chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân TpHCM; - Sở Tư pháp TpHCM; - Viện kiểm sát nhân dân TpHCM; - Viện kiểm sát nhân dân Quận 5; - Cơ quan CSĐT Công an Quận 5; - Bộ phận THA HS Tòa án Quận 5; - Chi cục Thi hành án dân sự Quận 5; - Bị cáo; - Người có QLNVLQ đến vụ án; - Lưu Hồ sơ vụ án, VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Quang Dũng |