- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Kim H và anh Lý Thanh
- Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN 6 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 71/2019/HNGĐ-ST Ngày: 24/01/2019 V/v “Ly hôn giữa chị H và anh P” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN 6, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Thanh Trúc
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Vũ Thị Hiệp
2. Bà Nguyễn Thị Lưu Ly
- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thùy Vân – Thư ký Toà án nhân dân Quận
6, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh tham
gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Dịu Thùy - Kiểm sát viên.
Trong ngày 24 tháng 01 năm 2019 tại trụ sở Toà án nhân dân Quận 6,
Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số
268/2018/TLST-HNGĐ ngày 19/4/2018 về việc: “Ly hôn” theo Quyết định đưa
vụ án ra xét xử số: 595/2018/QĐXX-HNGĐ ngày 06 tháng 12 năm 2018 và
Quyết định hoãn phiên tòa số 01/2019/QĐST-HPT ngày 03 tháng 01 năm 2019
giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Kim H, sinh năm: 1997 (có mặt)
Hộ khẩu thường trú: 133/9B đường V, phường T, quận S, Thành phố Hồ
Chí Minh.
2. Bị đơn: Anh Lý Thanh P, sinh năm: 1993 (vắng mặt)
Hộ khẩu thường trú: 157/38/43/24 đường M, phường B, quận S, Thành
phố Hồ Chí Minh;
Địa chỉ cư trú: 424/55/5 đường N, phường M, quận S, Thành phố Hồ Chí
Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn xin ly hôn nộp ngày 11/4/2018 và trong quá trình xét xử,
nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kim H trình bày: Chị và anh Lý Thanh P tự nguyện
chung sống với nhau năm 2015, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường B, quận S, Thành phố Hồ Chí Minh theo giấy chứng nhận kết hôn số 100 ngày 15/12/2015, có 01 con chung tên Lý Ái N, sinh ngày 09/11/2015.
Sau khi cưới, chị H và anh P sống tại nhà thuê. Thời gian đầu, vợ chồng
sống hạnh phúc. Đến giữa năm 2016 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do không hòa hợp nhau về tính tình, quan điểm sống. Anh P không có việc làm ổn định, thường đi chơi game bắn cá gây nợ nần khiến chị H nhiều lần phải trả thay nên vợ chồng xảy ra gây cãi dẫn đến xô xát. Chị H đã nhiều lần khuyên nhủ anh P đi tìm việc làm phụ giúp kinh tế chăm lo cho gia đình, thay đổi tính tình nhưng không có kết quả nên từ giữa năm 2017 chị H đã mang theo con về nhà cha mẹ ruột ở, vợ chồng không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau, tình cảm ngày càng phai nhạt. Đến tháng 3 năm 2018 thì mâu thuẫn vợ chồng càng trở nên gay gắt và đã ly thân cho đến nay. Chị Nguyễn Thị Kim H xác định không còn tình cảm nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn anh Lý Thanh P.
Về con chung: Chị Nguyễn Thị Kim H yêu cầu được nuôi dưỡng, giáo
dục con chung tên Lý Ái N, sinh ngày 09/11/2015 cho đến khi thành niên. Việc cấp dưỡng nuôi con do hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị Nguyễn Thị Kim H xác định không có,
không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Phía bị đơn anh Lý Thanh P đã được Tòa án triệu tập đến Tòa để trình bày
ý kiến về việc nguyên đơn yêu cầu ly hôn nhưng cố tình vắng mặt không có lý do nên Tòa án không ghi nhận ý kiến và không tiến hành hòa giải được.
Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kim H vẫn giữ nguyên các ý
kiến đã trình bày, ngoài ra không có yêu cầu gì khác. Bị đơn anh Lý Thanh P vắng mặt tại phiên tòa đến lần thứ hai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh phát
biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa đều đảm bảo đúng với quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng của chị Nguyễn Thị Kim H và anh Lý Thanh P đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 Viện kiểm sát nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Kim H được ly hôn với anh Lý Thanh P. Về con chung: Giao con chung tên Lý Ái N, sinh ngày 09/11/2015 cho chị Nguyễn Thị Kim H nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi thành niên, chị H không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại
phiên Toà và kết luận của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 6 về việc chấp
hành pháp luật tố tụng và nội dung của vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:
. Hình thức, nội dung đơn yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Kim H
thực hiện đúng quy định tại Điều 189 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 nên được
Hội đồng xét xử chấp nhận.
. Yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kim H đối với bị
đơn anh Lý Thanh P có nơi cư trú tại Quận 6 nên căn cứ quy định tại khoản 1
Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng
dân sự, Tòa án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh có thẩm quyền giải
quyết vụ án.
. Quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị Kim H và anh Lý Thanh P
phát sinh từ năm 2015 có đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền
theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 là hôn nhân hợp
pháp.
. Về yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn:
Theo nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kim H trình bày mâu thuẫn vợ chồng
phát sinh từ giữa năm 2016 do không hòa hợp nhau về tính tình, về quan điểm
sống, anh P thường chơi game bắn cá gây nợ nần, không có trách nhiệm với gia
đình nên vợ chồng thường xảy ra gây cãi dẫn đến xô xát. Chị H đã nhiều tạo
điều kiện để anh P sửa đổi tính tính nhưng không có kết quả. Từ tháng 3 năm
2018, vợ chồng không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau và đã ly thân cho đến
nay. Chị Nguyễn Thị Kim H xác định không còn tình cảm nên yêu cầu Tòa án
giải quyết cho ly hôn anh Lý Thanh P.
Phía bị đơn anh Lý Thanh P vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải
quyết vụ án nên không ghi nhận được ý kiến.
Theo Điều 19 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định: “Vợ chồng
có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ
nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình...” nhưng qua
lời trình bày của nguyên đơn thì giữa chị H, anh P đã phát sinh nhiều mâu thuẫn,
cả hai đã không có sự quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau vun đắp cho cuộc
sống gia đình. Từ tháng 3 năm 2018 thì mâu thuẫn vợ chồng trở nên gay gắt,
thường xảy ra gây cãi và đã ly thân cho đến nay. Từ khi thụ lý vụ án, Tòa án đã
nhiều lần tiến hành hòa giải tạo điều kiện cho vợ chồng chị H, anh P hàn gắn
tình cảm, trở về đoàn tụ, tuy nhiên, phía bị đơn anh Lý Thanh P vắng mặt không
lý do, do vậy Tòa án không tiến hành hòa giải được. Căn cứ khoản 1 Điều 56
Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, xét thấy mâu thuẫn vợ chồng của chị
Nguyễn Thị Kim H và anh Lý Thanh P đã trầm trọng, đời sống chung không thể
kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu
cầu ly hôn của nguyên đơn là có cơ sở.
. Về con chung: Hiện nay cháu Lý Ái N, sinh ngày 09/11/2015 đang
sống cùng chị Nguyễn Thị Kim H. Chị H có yêu cầu được nuôi dưỡng, giáo dục con chung cho đến khi thành niên. Vì lợi ích về mọi mặt của trẻ, căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận giao cháu Lý Ái N, sinh ngày 09/11/2015 cho chị Nguyễn Thị Kim H nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi thành niên. Chị H không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
. Về tài sản chung và nợ chung: Chị Nguyễn Thị Kim H xác định
không có, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Kim H phải chịu án phí ly
hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
. Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị Kim H và anh Lý Thanh P
được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1
Điều 39, khoản 4 Điều 147 và Điều 189 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Các Điều 9, 14, 51, 53, 56, 81, 82, 83, 84 và Điều 85 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điều 26 của Luật thi hành án dân sự năm 2008; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Kim H và anh Lý Thanh
P. Giấy chứng nhận kết hôn số 100 ngày 15/12/2015 do Ủy ban nhân dân phường B, quận S, Thành phố Hồ Chí Minh cấp không còn giá trị kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
2. Về nuôi con chung: Giao cháu Lý Ái N, sinh ngày 09/11/2015 cho chị
Nguyễn Thị Kim H nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi thành niên. Chị Nguyễn Thị Kim H không yêu cầu anh Lý Thanh P cấp dưỡng nuôi con.
Anh Lý Thanh P có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung
với chị Nguyễn Thị Kim H.
Anh Lý Thanh P có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản
trở.
Trường hợp anh Lý Thanh P lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây
ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì chị Nguyễn Thị Kim H có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của anh Lý Thanh P.
Vì lợi ích của con, khi cần thiết đôi bên được quyền yêu cầu thay đổi
người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Chị Nguyễn Thị Kim H xác định không
có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4. Án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Kim H nộp 300.000 đồng (ba
trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được tính vào số tiền tạm nộp án phí đã
nộp theo biên lai thu số 0029091 ngày 19/4/2018 của Chi cục Thi hành án dân
sự Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh. Chị Nguyễn Thị Kim H đã nộp đủ án phí.
5. Chị Nguyễn Thị Kim H được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15
ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Lý Thanh P có quyền kháng cáo bản án trong
thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được
niêm yết.
6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi
hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, và Điều 9 Luật
Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều
| Nơi nhận: - Các đương sự; - TAND TP.HCM; - VKSND TP.HCM; - VKSND Quận 6; - CCTHADS Quận 6; - UBND phường B, quận S; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Thanh Trúc |