- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn."
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Kim C được ly hôn ông Trần Văn T.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ L TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 71/2019/HN-ST Ngày 22 tháng 8 năm 2019 V/v tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ L, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoa
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Tấn Hậu
2. Ông Đặng Khoa Thi
Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Chiền - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố L, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố L, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Lê Hoàng Nhựt - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 8 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố L, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 506/2018/TLST-HNGĐ, ngày 05 tháng 7 năm 2018 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định Hoãn phiên tòa số: 126/2019/QĐST-HNGĐ, ngày 30 tháng 7 năm 2019 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Kim C
+ Địa chỉ: Khóm N, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
2. Bị đơn: Ông Trần Văn T
+ Địa chỉ: Khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện xin ly hôn, bản tự khai cùng các lời khai trong quá trình giải quyết nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim C trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Kim C và ông Trần Văn T tự nguyện tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường M vào ngày 02/6/2008. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc được thời gian thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân bất đồng quan điểm sống, ông T không quan tâm đến gia đình, vợ con, không chí thú làm ăn để ổn định cuộc sống. Mặc dù bà nhiều lần động viên, cố gắng hàn gắn để duy trì hạnh phúc gia đình, nhưng vẫn không có kết quả. Do mâu thuẫn đã trầm trọng, tình cảm dành cho nhau không còn, hôn nhân không hạnh phúc nên bà C yêu cầu ly hôn ông T.
Về con chung: Ông bà có hai con chung tên Trần Thị Thanh T, sinh ngày 19/6/2002 và Trần Thị Thanh N, sinh ngày 31/10/2012. Bà C yêu cầu được nuôi con sau khi ly hôn, không yêu cầu ông T cấp dưỡng.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có.
Quá trình giải quyết vụ án, ông Trần Văn T mặc dù đã được tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng ông T vẫn vắng mặt, không có văn bản trình bày ý kiến đối với các yêu cầu của bà Nguyễn Thị Kim C. Tại phiên tòa, ông T tiếp tục vắng mặt không có lý do.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố L phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, của đương sự và đề xuất việc giải quyết vụ án như sau:
Thẩm phán xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, thụ lý giải quyết đúng quy định tại khoản 1, Điều 28; điểm a, khoản 1, Điều 35; điểm a, khoản 1, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Các văn bản tố tụng được tống đạt đúng quy định tại Điều 175, 177 và 179 BLTTDS 2015. Về thời hạn chuẩn bị xét xử chưa thực hiện đúng quy định tại điểm a, khoản 1, Điều 203 BLTTDS 2015. Hội đồng xét xử, Thư ký tuân theo đúng các quy định của BLTTDS về xét xử vụ án. Nguyên đơn thực hiện quyền và nghĩa vụ đúng quy định tại Điều 70, 71 BLTTDS 2015. Bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 72 BLTTDS.
Ý kiến về việc giải quyết vụ án:
- Về hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của bà Nguyễn Thị Kim C đối với ông Trần Văn T.
- Về con chung: Chấp nhận yêu cầu của bà C được nuôi dưỡng hai con chung, không yêu cầu ông T cấp dưỡng, nên không xem xét giải quyết.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Bà Nguyễn Thị Kim C khởi kiện tranh chấp ly hôn với ông Trần Văn T, ông T cư ngụ tại địa chỉ khóm Đ, phường M, thành phố L, nên Tòa án nhân dân thành phố L thụ lý giải quyết là phù hợp quy định tại khoản 1, Điều 28; điểm a, khoản 1, Điều 35; điểm a, khoản 1, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Phiên tòa hôm nay mặc dù đã được triệu tập hợp lệ lần hai nhưng ông Trần Văn T vẫn tiếp tục vắng mặt không có lý do, bà Nguyễn Thị Kim C có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1; điểm b, khoản 2, Điều 227; khoản 1, 3, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bà C và ông T.
Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Kim C và ông Trần Văn T tự nguyện tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường M vào ngày 02/6/2008 nên được pháp luật công nhận là vợ chồng theo quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình. Nguyên nhân ly hôn theo bà C trình bày sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc được thời gian thì phát sinh mâu thuẫn do ông T không quan tâm đến gia đình, không chí thú làm ăn để ổn định cuộc sống. Bà C nhiều lần động viên ông T cố gắng hàn gắn để duy trì hạnh phúc gia đình, nhưng ông T vẫn không thay đổi. Do mâu thuẫn đã trầm trọng, tình cảm dành cho nhau không còn, hôn nhân không hạnh phúc nên bà C vẫn kiên quyết ly hôn.
Theo Biên bản xác minh của Tòa án tại Công an phường M thể hiện: Đương sự Trần Văn T, sinh năm 1979 hiện đăng ký thường trú tại khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang và theo Biên bản xác minh của Tòa án tại Ủy ban nhân dân phường M thể hiện: Đương sự Trần Văn T, sinh năm 1979 và chị Nguyễn Thị Kim C, sinh năm 1981. Mâu thuẫn vợ chồng giữa anh T và chị C không có đến địa phương để hòa giải, nên địa phương không nắm rõ để cung cấp cho Tòa án được.
Về con chung có 02 con là Trần Thị Thanh T, sinh năm 2002 và Trần Thị Thanh N, sinh năm 2012. Hiện nay đang sống với chị Nguyễn Thị Kim C, ngoài ra không cung cấp gì thêm.
Qua lời trình bày của nguyên đơn và xem xét các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ, nhận thấy, quá trình giải quyết vụ án ông T vắng mặt không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu của bà C về tranh chấp ly hôn, con chung, tài sản chung và nợ chung, không cung cấp, giao nộp chứng cứ và vắng mặt trong các buổi làm việc theo thông báo của Tòa án. Tại phiên tòa, ông T tiếp tục vắng mặt không có lý do là không có thiện chí hòa giải hàn gắn tình cảm vợ chồng. Hội đồng xét xử động viên bà C vì con tạo cơ hội vợ chồng đoàn tụ, nhưng bà C vẫn kiên quyết ly hôn. Điều đó chứng tỏ tình trạng hôn nhân của ông bà đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nếu duy trì cuộc hôn nhân cũng không đem lại hạnh phúc thật sự cho cả hai. Do đó, căn cứ khoản 1, Điều 51; khoản 1, Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Kim C được ly hôn ông Trần Văn T, như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
Về con chung: Ông bà có hai con chung tên Trần Thị Thanh T, sinh ngày 19/6/2002 và Trần Thị Thanh N, sinh ngày 31/10/2012. Bà C yêu cầu được nuôi con sau khi ly hôn, không yêu cầu ông T cấp dưỡng.
Xét thấy, hai con chung hiện do bà C chăm sóc, nuôi dưỡng. Cháu T cũng có nguyện vọng được sống với bà C, nếu ba mẹ ly hôn. Ông T không tranh chấp quyền nuôi con. Do đó, để đảm bảo ổn định cuộc sống cho hai con chung của ông T và bà C, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà C được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng hai con chung sau khi ly hôn.
Về cấp dưỡng nuôi con, cha mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con, đây là quyền lợi của con chưa thành niên. Tuy nhiên, bà C là người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn nhưng không yêu cầu ông T cấp dưỡng, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Bà C phải tạo điều kiện cho ông T được thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Việc nuôi con không cố định.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà C trình bày không có.
Ông T không có văn bản trình bày ý kiến về tài sản chung và nợ chung, nên Hội đồng xét xử chưa xem xét giải quyết. Nếu sau này các đương sự có tranh chấp, khởi kiện vụ kiện khác.
Về án phí: Bà Nguyễn Thị Kim C phải chịu 300.000đ án phí Hôn nhân sơ thẩm, được trừ vào 300.000đ tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1, Điều 28; điểm a, khoản 1, Điều 35; điểm a, khoản 1, Điều 39; khoản 1; điểm b, khoản 2, Điều 227; khoản 1, 3, Điều 228; khoản 4, Điều 147; khoản 1, Điều 273; khoản 1, Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Khoản 1, Điều 51; khoản 1, Điều 56; khoản 2, Điều 81 và Điều 82 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Điều 6; điểm a, khoản 5, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Kim C được ly hôn ông Trần Văn T.
2. Về con chung: Ông bà có hai con chung tên Trần Thị Thanh T, sinh ngày 19/6/2002 và Trần Thị Thanh N, sinh ngày 31/10/2012.
Bà C được trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục hai con chung.
Ông T không phải cấp dưỡng nuôi con chung, do bà C không yêu cầu.
Bà C phải tạo điều kiện cho ông T được thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục hai con chung. Việc nuôi con không cố định.
3. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Kim C phải chịu 300.000đ án phí Hôn nhân sơ thẩm, được trừ vào 300.000đ tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0008836, ngày 05/7/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố L. Bà C đã nộp đủ tiền án phí.
Đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đương sự không có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày họ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi gởi: - Tòa án ND tỉnh An Giang; - VKS ND TPL; - Thi hành án DS TPL; - UBND P. M, TPL; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ; - Lưu văn phòng./. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hoa THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hoa |