vanban.org

Bản án 71/2018/HSST — Hình sự

TAND huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La Tuyên án 31/07/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Đào Văn K tên gọi khác Đào Hồng K phạm tội; Tội tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Đào Văn K 5 ( Năm ) năm tù. “ Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị tạm giữ là ngày 24/5/2018”. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Đào Văn K được quy đinh tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đào Văn K - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đào Văn K tên gọi khác Đào Hồng K phạm tội; Tội tàng trữ trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VÂN HỒ
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 71/2018/HSST
Ngày: 31 - 7 - 2018.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÂN HỒ - TỈNH SƠN LA

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Tuấn Long.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Mùi Anh Tiến - Ông Trần Đức Khoa.

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Vũ Hồng Nghiêm - Cán bộ

Tòa án nhân dân huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vân Hồ - tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Ông Trần Công Tiến - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 7 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La; Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số; 77/2018/HSST ngày 13 tháng 7 năm 2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 71/2018/QĐXXST- HS ngày 18 tháng 7 năm 2018, đối với bị cáo.

Đào Văn Kh; tên gọi khác, Đào Hồng K, sinh ngày 19 tháng 6 năm 1960. Sinh và thường trú tại; Đội 1, xã NL, huyện BL, tỉnh Hà Nam. Giới tính nam, tôn giáo: Không, quốc tich Việt Nam. Dân tộc: Kinh; trình độ văn hoá: 7/10; nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông; Đào Văn L( Đã chết ), con bà; Lê Thị T ( Đã chết). Bị cáo có vợ Trần Thị N 53 tuổi và 03 con, con lớn 33 tuổi, con nhỏ 26 tuổi . Tiền án, tiền sự; không có. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam kể từ ngày 24 tháng 5 năm 2018 cho đến nay bị cáo có mặt tại phiên toà.

* Người chứng kiến: Anh Vũ Văn A.

Trú tại: Bản BN 2, xã VH, huyện VH, tỉnh Sơn La. ( Vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bản thân Đào Văn K là đối tượng nghiện chất ma túy lâu năm, vào khoảng 7 giờ ngày 23/5/2018, K một mình đi bộ trong bản Cang, xã Pà Cò, huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình. Mục đích tìm mua ma túy để sử dụng, trên đường đi K gặp một người phụ nữ dân tộc Mông không quen biết giới thiệu tên là M. K hỏi mua Heroine của Mthì M bảo K ngồi chờ, K ngồi chờ đến 9 giờ ngày 23/5/2018, thì có một người phụ nữ dân tộc Mông không quen biết đi đến chỗ M thì M gọi K đến. Kh đã thỏa thuận mua ma túy của người phụ nữ đó được 01 gói Heroine gói bằng mảnh ni lon màu đen với giá là 4.000.000 đồng. Sau khi mua được ma túy K cất giấu gói Heroine vào túi quần bên phải rồi đi về nhà trọ. Đến khoảng 21 giờ ngày 23/5/2018, K lấy 01 ít Heroine ra sử dụng và lấy mảnh ni lon màu trắng bọc số Heroine còn lại nhét vào hậu môn của mình. Khoảng 0 giờ ngày 24/5/2017, K đi bộ ra quốc lộ 6 thuộc bản Co Chàm, xã Lóng Luông, huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La. Thì bị kiểm tra phát hiện và bắt quả tang Đào Văn K đang có hành vi vận chuyển, cất giấu trái phép chất ma túy, thu giữ toàn bộ vật chứng vụ án gồm có.

01 gói nilon màu trắng , tiếp đến là lớp ni lon màu đen bên trong đựng chất bột màu trắng nghi là Heroine ( K khai là Heroine ), cân tịnh được khối lượng 10,39 gam, rút 0,06 gam làm mẫu gửi giám định chất ma túy còn lại 10,33 gam ( Đã được niêm phong ).

Tạm giữ của Đào Văn K 200.000đồng tiền ngân hàng Nhà nước Việt Nam. 01 chiếc điện thoại di động không rõ nhãn hiệu.

Tại bản kết luận giám đinh số: 653/KLMT ngày 28/5/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: “Mẫu gửi giám đinh ký hiệu “K” là chất ma túy; loại chất Heroine. Tổng khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,06 gam. Tổng khối lượng chất ma túy thu giữ được là 10,39gam, loại chất Heroine”.

Tại bản Cáo trạng số: 50/CT-VKS ngày 13/7/2018 của Viện kiểm sát nhân huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La đã truy tố bị cáo Đào Văn K về tội; Tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Đào Văn K phạm tội: Tội tàng trữ trái phép chất ma túy.

Đề nghị áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1, 2 Điều 51Bộ luật hình sự năm 2015.

Đề nghị xử phạt tù bị cáo Đào Văn K từ 5 ( Năm) năm tù đến 5 ( Năm) năm 6 ( Sáu ) tháng tù.

Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Đào Văn K được quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 điểm a, c, khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đề nghị tuyên tịch thu để tiêu huỷ: 01 phong bì bên trong đựng 10,33 gam Heroine của bị cáo và vỏ gói niêm phong ban đầu và test thử ma túy.

Đề nghị tuyên tạm giữ của bị cáo 200.000đồng tiền ngân hàng Nhà nước Việt Nam để đảm bảo thi hành án khoản tiền án phí hình sự sơ thẩm. Đề nghị tuyên trả lại bị cáo 01 chiếc điện thoại di động không rõ nhãn hiệu.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của Nhà nước.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ và toàn diện chứng cứ.

Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa vẫn giữ nguyên Quyết định truy tố bị cáo Đào Văn K về tội: Tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 và quan điểm luận tội tại phiên tòa đối với bị cáo.

Ý kiến của bị cáo Đào Văn K nhất trí như Quyết định truy tố và quan điểm luận tội của Viện kiểm sát, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt thấp nhất trong khung hình phạt đối với bị cáo và miễn hình phạt bổ sung được quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Ngày 24/5/2018, Đào Văn K thường trú tại; Đội 1, xã NL, huyện B L, tỉnh Hà Nam. Bị phát hiện và bắt quả tang tại bản Co Chàm, xã Lóng Luông, huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La. Đang vận chuyển, cất giấu trái phép 10,39 gam Heroine. Mục đích mua lại ma túy, vận chuyển, cất giấu tàng trữ để sử dụng dần cho bản thân. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với những lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, Kết luận giám định chất ma túy, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Trên cơ sở đó có đầy đủ điều kiện đủ căn cứ kết luận bị cáo Đào Văn K phạm tội: Tội tàng trữ trái phép chất ma tuý, bị cáo Đào Văn K tàng trữ khối lượng Heroine có khối lượng từ 5 gam đến dưới 30 gam, vi phạm điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 như Quyết định truy tố và Quan điểm luận tội tại phiên toà của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La là có căn cứ đúng pháp luật.

Tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định“ Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm”.

Tại khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định: Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ năm năm đến mười năm.

a. .....

b.....

g, Heroine, cocaine, Methamphetamine, Amphetaminne, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam.

. Xét hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý của bị cáo Đào Văn K với số lượng cất giấu, tàng trữ số lượng tương đối lớn. Mục đích mua lại Heroine, vận chuyển, cất giấu để tàng trữ sử dụng dần cho bản thân. Hành vi phạm tội của bị cáo xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý cuả Nhà nước về các chất ma túy, làm lây lan phát sinh các tệ nạn xã hội nhất là tệ nạn ma tuý. Là hành vi nguy hiểm cho xã hội gây mất trật tự an toàn xã hội tại địa phương, bị cáo tàng trữ 10,39 gam Heroine cần vận dụng điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.

. Xét nhân thân bị cáo Đào Văn K phạm tội lần đầu chưa có tiền án, tiền sự. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo,thực sự ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Bị cáo có thời gian trong quân ngũ làm nhiệm vụ quốc tế có đóng góp trong quân đội là tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xong nhân thân bị cáo là người am hiểu pháp luật nghiện ma tuý lâu năm nhận thức rõ tác hại của ma tuý là nhà nước cấm, do nghiện ma tuý nên coi thường pháp luật cố tình phạm tội rất nghiêm trọng. Bị cáo Đào Văn K phạm tội rất nghiêm trọng nay xét thấy cần cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian mới đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người làm ăn lương thiện có ích cho xã hội. Cần lên một mức án tương xứng đối với hành vi phạm tội của bị cáo mới đảm bảo tính chất nghiêm minh của pháp luật, giáo dục và phòng ngừa chung nhất là công tác phòng chống tội phạm nói chung và tội phạm ma tuý trong giai đoạn hiện nay.

. Ngoài hình phạt chính là phạt tù bị cáo Đào Văn K còn có thể phải chịu hình phạt bổ sung được quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo là người nghiện ma túy, không có tài sản có giá trị, không có thu nhập, không đủ điều kiện và khả năng thi hành, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

. Bị cáo Đào Văn Kh đang bị tạm giam, nay Hội đồng xét xử xét thấy cần tiếp tục tạm giam bị cáo trong hạn 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, vận dụng khoản 1, khoản 3 Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự.

. Đối với nguồn gốc số Heroine bị thu giữ, theo lời khai của Kh là mua của một người phụ nữ dân tộc Mông tên là M à người phụ nữ dân tộc Mông K không quen biết, không biết tên và địa chỉ cụ thể. Cơ quan CSĐT đã tiến hành điều tra, xác minh ngoài lời khai duy nhất của Đào Văn K ra không có chứng cứ nào khác cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý người bán ma túy cho Đào Văn K.

. Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vân Hồ, Kiểm sát viên trong qua trình điều tra, đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên tòa và trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và Kiểm sát viên tham gia tố tụng tuân theo và chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về vật chứng của vụ án: Số ma túy Heroine,thu giữ của bị cáo là hàng quốc cấm, Nhà nước cấm lưu hành và vỏ gói niêm phong ban đầu, tetts thử ma túy không có giá trị sử dụng, cần tuyên tịch thu tiêu hủy. Đối với số tiền ngân hàng nhà nước Việt nam, 01 chiến điện thoại cơ quan điều tra thu giữ của bị cáo. Nay xét thấy không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo cần tuyên trả lại cho bị cáo 01điện thoại và tuyên tạm giữ số tiền để đảm bảo thi hành án ( khoản tiền án phí phí hình sự sơ thẩm). Vận dụng điểm c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 điểm a, c, khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

. Về án phí: Bị cáo Đào Văn Kh phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định chung của Nhà nước vận dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016 UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội. Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Đào Văn K có quyền kháng cáo theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015. Điểm a, c, khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106, khỏan 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự. Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016 UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội. Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

2. Tuyên bố bị cáo Đào Văn K tên gọi khác Đào Hồng K phạm tội; Tội tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Đào Văn K 5 ( Năm ) năm tù. “ Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị tạm giữ là ngày 24/5/2018”.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Đào Văn K được quy đinh tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.

3. Về vật chứng vụ án: Tuyên tịch thu tiêu hủy 01 phong bì ( Đã được niêm phong ) bên trong đựng 10,33 gam Heroine của bị cáo và vỏ gói niêm phong ban đầu, 01 tetst thử ma túy ( đã được niêm phong).

Tuyên trả lại cho bị cáo 01 chiếc điện thoại di động không rõ nhãn hiệu có số seri: C 196041401945. Kèm theo 02 sim ( Đã được niêm phong ).

Tuyên tạm giữ của bị cáo Đào Văn K 200.000đồng ( Hai trăm nghìn đồng chẵn) tiền ngân hàng Nhà nước Việt Nam để đảm bảo thi hành án ( Khoản tiền án phí hình sự sơ thẩm) .

4. Về án phí: Bị cáo Đào Văn K phải nộp 200.000 đồng ( Hai trăm nghìn đồng chẵn ) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Báo cho bị cáo Đào Văn K biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Toà án ND tỉnh;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND huyện;

- Công an;

- Trại giam;

- THA hình sự;

- THA dân sự;

- Bị cáo;

- Sở Tư pháp;

- Lưu án văn;

- Lưu hồ sơ.

Đỗ Tuấn Long Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Toà án ND tỉnh;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND huyện;

- Công an;

- Trại giam;

- THA hình sự;

- THA dân sự;

- Bị cáo;

- Sở Tư pháp;

- Lưu án văn;

- Lưu hồ sơ.

Đỗ Tuấn Long

Cỡ chữ