- Tranh chấp gì? án hình sự — "Mùa A N - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? [1] Tuyên bố Mùa A N phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý.
- Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 15 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NP TỈNH ĐIỆN BIÊN ______________ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 71/2018/HS-ST Ngày 30-10-2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NP, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Vàng Thị Dua.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Thùng Văn Liên và ông Lò Văn Tuấn.
- Thư ký phiên toà: Ông Lò Văn Hương - Thư ký Toà án nhân dân huyện NP.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện NP, tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: Ông Phùng Việt Hùng - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 10 năm 2018, tại bản SC 1, xã Nà Hỳ, huyện NP; Tòa án nhân dân huyện NP, tỉnh Điện Biên mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 74/2018/TLST-HS ngày 28/9/2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 71/2018/QĐXXST-HS ngày 16/10/2018 đối với bị cáo:
Mùa A N; Tên gọi khác: Không; Sinh năm 1979 tại huyện M, tỉnh Yên Bái; Nơi cư trú: Bản HK, xã VĐ, huyện NP, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Làm nương; Trình độ học vấn: 1/12; Dân tộc: Mông; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Mùa Chờ V và con bà: Giàng Thị A; Bị cáo có vợ là Giàng Thị S; sinh năm 1980 và có 04 người con; Tiền sự, tiền án: Không;
Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/6/2018 tại nhà tạm giữ Công an huyện NP cho tới nay. Bị cáo có mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 20 giờ 00 phút, ngày 14/6/2018, tổ công tác Đồn Biên phòng Nà Bủng làm nhiệm vụ tại khu vực bản HK, xã VĐ, huyện NP phát hiện bắt quả tang Mùa A N đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy tại nhà ở của Mùa A L (là em trai của N) cùng bản HK xã VĐ, khi Mùa A N cùng vợ đến thăm vợ Mùa A L bị ốm. Khi thấy tổ công tác vào nhà, Mùa A N sợ quá nên đã lấy gói thuốc phiện để trong túi quần bên phải đang mặc ném xuống đất. Tổ công tác phát hiện, yêu cầu N nhặt lên để tổ công tác kiểm tra. Mùa A N khai nhận đó là thuốc phiện của N mua về sử dụng cho bản thân. Do N mua của một người đàn ông dân tộc Mông không quen biết tại khu vực bản HK, xã VĐ, huyện NP vào ngày 14/6/2018 với giá 20.000đ.
Ngoài lời khai của bị cáo không còn chứng cứ nào khác chứng minh, do đó, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện NP không có căn cứ điều tra mở rộng vụ án.
Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng và lấy mẫu giám định ngày 15/6/2018 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện NP xác định: Vật chứng nghi là thuốc phiện thu giữ của Mùa A N có khối lượng là 03 (Ba) gam.
Bản kết luận giám định số: 598/GĐ-PC54, ngày 26/6/2018 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: Mẫu chất dẻo màu nâu đen được trích ra từ vật chứng thu giữ của Mùa A N gửi giám định là chất ma túy. Loại thuốc phiện.
Bản cáo trạng số: 52/CT-VKSNP ngày 27/9/2018, Viện kiểm sát nhân dân huyện NP, tỉnh Điện Biên đã truy tố bị can Mùa A N về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 249/ BLHS.
Tại Cơ quan điều tra và tại phiên toà, bị cáo Mùa A N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện NP đã truy tố và thừa nhận bản cáo trạng truy tố bị cáo về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy là đúng người, đúng tội.
Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện NP giữ quyền công tố tại phiên toà trình bày lời luận tội. Sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, cũng như qua xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Mùa A N phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy. Áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 và điểm b khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Mùa A N mức án từ 12 đến 18 tháng tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy vật chứng vụ án là 02 (Hai) gam thuốc phiện.
Miễn án phí án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo Mùa A N nhận tội và không có ý kiến tranh luận gì với vị đại diện Viện kiểm sát, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện NP, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện NP, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Bị cáo Mùa A N không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Hành vi phạm tội của bị cáo: Hồi 20 giờ 00 phút, ngày 14/6/2018, Mùa A N đã có hành vi tàng trữ trái phép 03 gam thuốc phiện với mục đích để sử dụng. Tại phiên tòa bị cáo giữ nguyên lời khai tại cơ quan điều tra, không bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung của vụ án, bị cáo hoàn toàn nhất trí với hành vi phạm tội như quyết định truy tố của Viện kiểm sát. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với kết quả điều tra, Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản niêm phong vật chứng; Biên bản mở niêm phong xác định khối lượng và lấy mẫu giám định ngày 15/6/2018; Kết luận giám định số 598/GĐ-PC54, ngày 26/6/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên. Vì vậy HĐXX kết luận bị cáo Mùa A N đã có hành vi phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 249/BLHS.
Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc ̣ trường hợp nghiêm trọng, hành vi
̣ phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự an ninh xã hội tại địa phương. Để góp phần đẩy lùi tệ nạn ma túy, hành vi phạm tội của bị cáo cần phải xử lý nghiêm, nhằm giữ vững kỷ cương pháp luật và răn đe giáo dục, phòng ngừa chung trong nhân dân.
Về nhân thân: Bị cáo Mùa A N là thanh niên trong độ tuổi lao động nhưng do không chịu rèn luyện bản thân, đua đòi theo thói hư tật xấu nên đã nghiện ma túy và phạm tội trong vụ án này.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Căn cứ vào khoản 5 Điều 249/BLHS, xét thấy bị cáo Mùa A N có hoàn cảnh gia đình khó khăn nên HĐXX miễn hình bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
Về nguồn gốc số ma túy bị thu giữ: Bị cáo Mùa A N khai nhận đã mua ma túy của người đàn ông không biết tên tuổi và địa chỉ ở đâu vào ngày 14/6/2018. Ngoài lời khai của bị cáo không còn chứng cứ nào khác chứng minh. Do đó, không có cơ sở để xác minh và xử lý đối với đối tượng đã bán ma túy cho bị cáo và buộc bị cáo Mùa A N phải chịu trách nhiệm về toàn bộ số ma túy bị thu giữ.
Về vật chứng của vụ án: Đối với 02 gam thuốc phiện (Sau khi đã trừ mẫu gửi giám định, không hoàn lại) là vật thuộc loại Nhà nước cấm lưu hành, cần tịch thu tiêu hủy theo điểm c khoản 1 Điều 47/BLHS và khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106/BLTTHS.
Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của BLTTHS và điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14: Xét thấy gia đình bị cáo Mùa A N là đồng bào dân tộc thiểu số sống ở vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn nên được miễn án phí Hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Tuyên bố Mùa A N phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý.
[2] Áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 và điểm b khoản 1 Điều 249/BLHS: Xử phạt bị cáo Mùa A N 15 (Mười lăm) tháng tù, kể từ ngày bắt: 14/6/2018.
[3] Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47/BLHS; Khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106/BLTTHS; tịch thu tiêu huỷ 02 (Hai) gam thuốc phiện (Sau khi đã trừ mẫu gửi giám định, không hoàn lại), theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 27/9/2018 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện NP.
[4] Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của BLTTHS năm 2015 và điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Toà án ngày 30/12/2016: Bị cáo Mùa A N được miễn án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định.
[5] Quyền kháng cáo: Báo cho bị cáo biết được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Bị cáo ; - CQĐT Công an huyện NP; - Nhà tạm giữ Công an huyện NP; - THAHS huyện NP; - Phòng KTNV và THA Tòa án tỉnh; - Chi cục THADS huyện NP; - PC 81 CA tỉnh Điện Biên; - VKSND huyện NP; - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên; - Sở tư pháp tỉnh Điện Biên; - Lưu hồ sơ vụ án; HSTHA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà Vàng Thị Dua |