- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Hữu H - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Hữu H (T).
- Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 33 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 71/2018/HS-PT Ngày 30-7- 2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Thanh Vân.
Các Thẩm phán: Bà Hoàng Thị Thơ.
Bà Lưu Thị Thu Thủy.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa:
Ông Dương Minh Hiếu - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 7 năm 2018, tại trụ sở, Toà án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 63/2018/HSPT ngày 04/7/2018 đối với bị cáo Lê Hữu H do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 06/2018/HSST ngày 25 tháng 5 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Tiền Giang.
- Bị cáo có kháng cáo:
Lê Hữu H (T), sinh năm 1994 tại thành phố Hồ Chí Minh.
Nơi cư trú: số 18, N, phường A, quận B, thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở hiện nay: số 18, N, phường A, quận B, thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: buôn bán; Trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Hữu Đ và bà Hồ Thị Phương D (chết); bị cáo chưa có vợ con; Tiền án: không, Tiền sự: không; Nhân thân: Ngày 31/12/2016 có hành vi sử sụng trái phép chất ma túy bị công an phường T, quận C, thành phố Hồ Chí Minh phạt 750.000 đồng, đã chấp hành xong; bị tạm giữ từ ngày 16/01/2018, chuyển tạm giam từ ngày 22/01/2018 cho đến nay.
Bị cáo có mặt.
Bản án không bị kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ ngày 15/01/2018, tại thành phố Hồ Chí Minh, Lê Hữu H mua 01 gói ma túy có trọng lượng 4,9826 gam, loại Methamphetamine từ địa chỉ facebook “CH” với giá 3.000.000 đồng. Đến khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày, H điện thoại thuê Phùng Thanh A là tài xế taxi hãng Uber chở H và bạn gái tên là Trần Khánh P đem theo gói ma túy trên cùng một số dụng cụ sử dụng ma túy đi đến nhà nghỉ PV do anh Trần Ngọc Duy Ph làm chủ để sử dụng (lúc này trên xe có cả bạn gái của anh Phùng Thanh A tên là Nguyễn Thị Thanh Dg. Đến khoảng 03 giờ ngày 16/01/2018 khi H chuẩn bị vào phòng nghỉ thì bị lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Tiền Giang phối hợp với Đội Cảnh sát điều tra Công an huyện TĐ và Công an xã T tiến hành kiểm tra, phát hiện và bắt quả tang Lê Hữu H có hành vi tàng trữ trên người số ma túy trên và một số dụng cụ sử dụng ma túy.
Vật chứng thu giữ:
- 01 gói ma túy để trong 01 bì thư được niêm phong có chữ ký ghi họ tên Lê Hữu H, Trần Ngọc Duy Ph, Nguyễn Nhật L, Nguyễn Duy Lh, Nguyễn Văn D và hình dấu tròn màu đỏ in chữ Công an xã T, Công an huyện TĐ, tỉnh Tiền Giang và một số vật dụng dùng để sử dụng ma túy.
Căn cứ kết luận số 20/KLGĐ-PC54 ngày 18/01/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tiền Giang kết luận mẫu tinh thể trong suốt trong gói nylon màu trắng viền đỏ được hàn kín, để trong một bì thư được niêm phong có chữ ký ghi họ tên Lê Hữu H, Trần Ngọc Duy Ph, Nguyễn Nhật L, Nguyễn Duy Lh, Nguyễn Văn D và hình dấu tròn màu đỏ in chữ Công an xã T; Công an huyện TĐ tỉnh Tiền Giang gửi giám định là ma túy, có trọng lượng 4,9826 gam, loại Methamphetamine, sau khi giám định mẫu vật còn lại 3,1805 gam.
* Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 06/2018/HS-ST ngày 25 tháng 5 năm 2017 của Tòa án nhân dân huyện TĐ, tỉnh Tiền Giang quyết định:
Tuyên bố bị cáo Lê Hữu H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Lê Hữu H 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16/01/2018.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về phần xử lý vật chứng, về phần án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
*Ngày 04/6/2018, bị cáo Lê Hữu Hoàng có đơn kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Lê Hữu H vẫn giữ nguyên nội dung trong đơn kháng cáo.
Quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm cho rằng đơn kháng cáo của bị cáo Lê Hữu H trong hạn luật định nên được cấp phúc thẩm chấp nhận xem xét giải quyết.
Về hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất nguy hiểm hành vi phạm tội của bị cáo Hoàng cùng với các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên xử phạt bị cáo H mức án 02 năm 06 tháng tù là phù hợp nên đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại phiên tòa, bị cáo Lê Hữu H đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như bản án sơ thẩm đã nêu, lời thừa nhận của bị cáo là phù hợp với lời khai người làm chứng và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã thể hiện: Vào khoảng 03 giờ ngày 16/01/2018, lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Tiền Giang phối hợp với Đội Cảnh sát điều tra Công an huyện TĐ và Công an xã T tiến hành kiểm tra, phát hiện và bắt quả tang Lê Hữu H có hành vi tàng trữ trên người 01 gói tinh thể rắn trong suốt nghi là ma túy tổng hợp loại hàng đá để trong 01 bì thư được niêm phong có trọng lượng 4,9826 gam. Căn cứ kết luận số 20/KLGĐ-PC54 ngày 18/01/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tiền Giang kết luận mẫu tinh thể trong suốt nói trên là Methamphetamine, có trọng lượng là 4,9826 gam. Do đó tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo về tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo qui định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền quản lý các chất ma túy của nhà nước. Bản thân bị cáo là người đã thành niên phải nhận thức được rằng ma túy là chất gây nghiện nếu sử dụng sẽ gây tác hại rất lớn và ảnh hưởng rất xấu đến sức khỏe của chính người sử dụng và cũng là nguyên nhân gây ra các loại tệ nạn xã hội và tội phạm mà hậu quả gây ra cho xã hội là vô cùng to lớn không thể nào lường hết được. Thế nhưng bị cáo vẫn bất chấp xem thường pháp luật tàng trữ sử dụng nên hành vi này cần phải được xử lý nghiêm khắc nhằm răn đe phòng chống chung cho toàn xã hội.
Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Hội đồng xét xử nhận thấy: Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm cũng đã xem xét đầy đủ toàn diện tính chất và mức độ nguy hiểm đối với xã hội do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, cùng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân xử phạt bị cáo 02 năm 06 tháng tù là tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm cũng như tại phiên tòa, bị cáo không đưa ra được những chứng cứ, tình tiết mới để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho mình nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm đã tuyên.
Về ý kiến đề nghị không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo giữ nguyên bản án sơ thẩm của đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở Hội đồng xét xử chấp nhận.
Các phần khác của quyết định bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Hữu H (T).
Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 06/2018/HSST ngày 25-5-2018 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Tiền Giang.
-Tuyên bố bị cáo Lê Hữu H (T) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 33; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015;
Xử phạt bị cáo Lê Hữu H (T) 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam là ngày 16 tháng 01 năm 2018.
2. Về án phí: Bị cáo Lê Hữu H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các phần khác của quyết định án sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tối cao; - Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh; - VKSND tỉnh TG; - Sở tư pháp tỉnh TG; - Phòng hồ sơ CA tỉnh TG; - Trại tạm giam CATG; - Phòng KTNV và THA (TAT); - TAND huyện T; - VKSND huyện T; - Công an huyện T; - THADS huyện T; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lê Thanh Vân |