- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Phát L - phạm tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ (điều 202 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo Trần
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 202 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Số: 71/2018/HS-PT Ngày: 22/03/2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Tô Phú Đông Các Thẩm phán: Ông Ngô Tấn Lợi Bà Nguyễn Thị Mai - Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hoàng Thanh Trúc – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp. - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Bà Lưu Thúy Ái - Kiểm sát viên. Ngày 22 tháng 3 năm 2018, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 381/2017/TLPT-HS ngày 27 tháng 12 năm 2017 đối với bị cáo Trần Phát L do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 39/2017/HS- ST ngày 22 tháng 11 năm 2017 của Tòa án nhân dân huyện Th. - Bị cáo có kháng cáo: Trần Phát L, sinh năm 1976 tại An Giang; HKTT và chổ ở: ấp B, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 9/12; Giới tính: Nam; Con ông Trần Văn Th và bà Nguyễn Thị K (Chết); có vợ và 02 con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo tại ngoại và cấm đi khỏi nơi cư trú theo lệnh số 20 ngày 19/7/2017 của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Th (có mặt tại phiên tòa). Ngoài ra, trong vụ án còn có đại diện hợp pháp của người bị hại; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không kháng cáo và Viện kiểm sát không kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng 21 giờ 20 phút ngày 23/3/2017, Trần Phát L điều khiển xe mô tô biển số 66K7-253x chạy trên đường Võ Văn K hướng Th – T với tốc độ từ 40 -50km/h, đến đoạn thuộc ấp 3, xã TM, huyện Th, tỉnh Đồng Tháp, do không chú ý quan sát, không nhường đường cho người đi bộ nên đụng vào ông Huỳnh Thanh Tr, đang đi bộ cùng chiều phía trước làm ông Tr, L và xe mô tô ngã trên mặt đường. Hậu quả làm cho Trần Phát L và ông Huỳnh Thanh Tr bất tỉnh được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa huyện Th, sau đó chuyển đến Bệnh viện đa khoa tỉnh Đồng Tháp. Đến 01 giờ 10 phút ngày 24/3/2017, ông Huỳnh Thanh Tr tử vong còn Trần Phát L bị thương vùng trán trái, mắt trái, xương đòn bên trái và cẳng tay trái đã được điều trị. Sau đó, Trần Phát L thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Kết quả khám nghiệm hiện trường lúc 23 giờ ngày 23/3/2017 như sau: Đoạn đường nơi xảy ra tai nạn là đường hai chiều không riêng biệt, đoạn đường thẳng, mặt đường trải nhựa, bằng phẳng, khô ráo, có cọc tiêu dọc theo hai bên đường, có vạch kẻ không liên tục giữa đường phân chia phần đường xe chạy với lề đường, chiều rộng của mặt đường là 6,40m. Vị trí điểm đụng đo vào lề phải hướng đi Th – T là 2,45m, điểm đụng đến tâm vết máu là 13,45m, điểm đụng đến tâm trục sau xe mô tô 66K7-253x là 15,35m, điểm đụng đến trụ điện số 263 là 15,80m; Xe mô tô biển số 66K7- 253x ngã nằm xéo đầu xe hướng về lề đường bên trái, đuôi xe hướng về lề đường bên phải hướng Th – T, tâm trục sau xe mô tô biển số 66K7-253x vào lề là 2,17m, tâm trục trước xe mô tô biển số 66K7-253x vào lề phải hướng Th – T là 2,53m. Kết quả khám nghiệm phương tiện xe mô tô biển số 66K7-253x lúc 00 giờ 15 phút ngày 24/3/2017 như sau: Đèn chiếu sáng trước bị bể, bể bóng đèn hư hỏng hoàn toàn; khung sắt bảo vệ đèn chiếu sáng phía trước bên trái bị móp thụng về phía sau vết dài 5cm, rộng 2 cm; ốp đèn xi nhan trước bên trái bị bể hư hỏng hoàn toàn; ba ga phía trước đầu xe bị cong lệch vị trí ban đầu chiều hướng từ phải sang trái, từ trước ra sau và từ dưới lên trên; cung chắn bùn trước bị bể gãy nhiều nơi; ốp nhựa trên ống giảm xóc trước bên trái bị bể sứt rời khỏi xe; má lớp bánh xe trước bên trái bị xay xát vết dài 15cm, rộng 3cm; đầu tay cầm lái phía bên phải bị mài mòn
nham nhở nhựa vết dài 4cm, rộng 2cm; cung chắn bùn trước góc bên phải bị mài mòn nhựa vết dài 2cm, rộng 1cm; đầu phanh chân trước bên phải bị xay xát mài mòn kim loại vết dài 4cm, rộng 2cm; gác chân trước bên phải bị cong lệch vị trí ban đầu chiều hướng từ trước ra sau, mất cục thun và mài mòn đầu kim loại vết tròn đường kính 1cm; đầu nhựa cần khởi động phía bên phải bị mài mòn nham nhở nhựa vết dài 3cm, rộng 2cm; đầu gác chân sau bên phải bị trầy xước mài mòn kim loại vết dài 2,5cm, rộng 0,5cm. Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số: 241/KL-KTHS ngày 07/4/2017 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Tháp, kết luận ông Huỳnh Thanh Tr bị đa chấn thương trong đó chấn thương vùng đầu làm nứt xương sọ phức tạp và dập xuất huyết não là nguyên nhân tử vong. Tại Bản kết luận giám định số 228/KL-KTHS ngày 05/4/2017 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Tháp, kết luận trong mẫu máu của ông Trần Phát L không có chứa thành phần Etanol (cồn). Tại Bản kết luận giám định số 229/KL-KTHS ngày 05/4/2017 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Tháp, kết luận trong mẫu máu của ông Huỳnh Thanh Tr có chứa thành phần Etanol (cồn), nồng độ: 379,7mg/100ml máu. Vật chứng thu giữ và đã xử lý gồm: - 01 xe mô tô biển số 66K7-253x; nhãn hiệu HALONG; loại xe Nữ; màu sơn Nâu; số khung 0022H-01054x; số máy FMG-3211837x; 01 giấy đăng ký mô tô, xe máy số 0080743, biển số đăng ký 66K7-253x, do Bùi Hoàng N đứng tên chủ xe; 01 giấy phép lái xe hạng A1 số AU126862, họ và tên Trần Phát L, sinh năm 1976, do Sở Giao thông vận tải thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 26/12/2011. Về trách nhiệm dân sự: Ngày 14/9/2017, bà Lê Thị Đ là vợ của nạn nhân Huỳnh Thanh Tr và cũng là người đại diện hợp pháp cho nạn nhân Tr yêu cầu bị can Trần Phát L bồi thường tiền mai táng, tiền tổn thất tinh thần và tiền cấp dưỡng đối với Lê Thanh Q, sinh ngày 25/02/2006 và Huỳnh Ngọc H, sinh ngày 10/7/2014, (là con của ông Tr) tổng số là 50.000.000đ. Hiện Trần Phát L đã khắc phục cho chị Lê Thị Đ số tiền 5.000.000đ. Đối với xe mô tô biển số 66K7-253x; nhãn hiệu HALONG; màu sơn Nâu; số khung 0022H-010540; số máy FMG-3211837x, do ông Trần Văn Thanh Tùng E, mua lại của ông Bùi Hoàng N vào năm 2007, với số tiền 4.000.000đ chưa làm
thủ tục sang tên theo quy định; Ngày 23/3/2017, Tùng E đưa xe mô tô và giấy đăng ký xe mô tô nêu trên cho bị cáo Trần Phát L mượn để đi làm thuê cho Tùng E. Hiện ông Trần Văn Thanh Tùng E xin lại xe và giấy đăng ký xe mô tô nêu trên. Tại bản án số 39/2017/HS-ST ngày 22/11/2017 của Tòa án nhân dân huyện Th đã quyết định: Tuyên bố bị cáo Trần Phát L phạm tội “ Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”. Áp dụng khoản 1 Điều 202; điểm b, p khoản 1, 2 Điều 46 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Phát L 06 (sáu) tháng tù thời hạn tù được tính kể từ ngày bị cáo đi chấp hành án. Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định. Ngày 05 tháng 12 năm 2017, bị cáo Trần Phát L có đơn kháng cáo với nội dung xin được hưởng án treo. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát Tỉnh phát biểu quan điểm: Tòa án cấp sơ thẩm quy kết bị cáo Trần Phát L phạm tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo khoản 1 Điều 202 Bộ luật hình sự 1999 là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật. Xét mức án 06 tháng tù là phù hợp với tính chất, mức độ mà hành vi của bị cáo gây ra. Bị cáo kháng cáo nhưng không cung cấp được tình tiết gì mới nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo Trần Phát L. Giữ nguyên phần Quyết định của bản án sơ thẩm đối với bị cáo. Trong phần tranh luận, bị cáo không có ý kiến tranh luận chỉ xin được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ sơ sở xác định: Vào ngày 23/3/2017, bị cáo Trần Phát L điều
khiển xe mô tô chạy trên đường Võ Văn K hướng Th – T với tốc độ từ 40 - 50km/h. Do không chú ý quan sát, không làm chủ tay lái nên đụng vào ông Huỳnh Thanh Tr, đang đi bộ cùng chiều phía trước làm ông Tr, bị cáo và xe mô tô ngã trên mặt đường. Hậu quả làm ông Tr tử vong. [2] Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Trần Phát L về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo khoản 1 Điều 202 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật. Xét thấy, hành vi của bị cáo Trần Phát L là nguy hiểm cho xã hội, làm ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn giao thông đường bộ. Đồng thời, đã trực tiếp xâm phạm tính mạng người bị hại, dẫn đến sự mất mát to lớn cho gia đình người bị hại. Bị cáo điều khiển xe môtô tham gia giao thông nhưng không chú ý quan sát gây ra tai nạn dẫn đến cái chết của ông Huỳnh Thanh Tr. Hành vi của bị cáo đã vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ và gây cái chết thương tâm cho người bị hại, gây mất trật tự trị an ở địa phương. Do đó, cần có thời gian cải tạo giáo dục bị cáo và có tác dụng phòng ngừa chung trong xã hội. [3] Khi lượng hình, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét đến điều kiện hoàn cảnh phạm tội của các bị cáo. Xét mức án 06 tháng tù mà Tòa án cấp sơ thẩm tuyên là phù hợp với tính chất, mức độ mà hành vi phạm tội của bị cáo gây ra. Bị cáo kháng cáo xin được hưởng án treo nhưng tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo không xuất trình được tình tiết gì mới để Hội đồng xét xử xem xét. [4] Do đó, Hội đồng xét xử thống nhất với quan điểm đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát, không chấp nhận kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo Trần Phát L, giữ nguyên phần quyết định của bản án sơ thẩm đối với bị cáo. [5] Do kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự. Không chấp nhận kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo Trần Phát L. Giữ nguyên phần quyết định của bản án hình sự sơ thẩm.
Tuyên bố bị cáo Trần Phát L phạm tội “ Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”. Áp dụng khoản 1 Điều 202; điểm b, p khoản 1, 2 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009. Xử phạt bị cáo Trần Phát L 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành hình phạt. Về án phí: Bị cáo Trần Phát L phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm. Các phần khác của quyết định án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận: -TANDTC (Vụ GĐKT1-Vụ1); - Ban Nội chính Tỉnh ủy: - Sở Tư pháp Tỉnh; - VKSND Tỉnh; - Cơ quan THAHS Công an T ỉnh; - Trại tạm gia m Công an Tỉnh (01 bản); - TA-VKS-THADS huyện Th; - CQCSĐT Công an huyện Th; - Bị cáo; - Phòng hồ sơ nghiệp vụ Công an Tỉnh; T ô P h ú Đ ông - Phòng KTNV-THA.TA Tỉnh; - Lưu: VT, HSVA (Trúc). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) |