vanban.org

Bản án 71/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 và Mục A Danh mục mức án phí, lệ phí Tòa án của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016,

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Huỳnh Thị T đối với ông Nguyễn Hoài V. Bà Huỳnh Thị T được ly hôn với ông Nguyễn Hoài V. Về con chung: Giao hai con chung tên Nguyễn Huỳnh Thúy V, sinh ngày 13/01/2011 và Nguyễn Trín T, sinh ngày 11/7/2017 cho bà Huỳnh Thị T trực tiếp nuôi dưỡ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn giữa bà Huỳnh Thị T và ông Nguyễn Hoài V"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 và Mục A Danh mục mức án phí, lệ phí Tòa án của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016,
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ
TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 71/2018/HNGĐ-ST.
Ngày: 13-9-2018.
V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi
ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Tất Ngọc Trân.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Lê Thị Mỹ;

2. Ông Trần Đăng Khoa.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Tú – Thư ký của Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá.

Trong ngày 13 tháng 9 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 173/2018/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 5 năm 2018 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 57/2018/QĐXX-ST ngày 18 tháng 7 năm 2018, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị T, sinh năm 1974. (có mặt)

Địa chỉ: Ấp B, xã A, huyện T, tỉnh Kiên Giang.

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Hoài V, sinh năm 1971. (vắng mặt)

Địa chỉ: Số 50/497 khu phố P, phường H, thành phố G, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn – bà Huỳnh Thị T trình bày: Bà T và chồng là Nguyễn Hoài V qua mai mối và tự nguyện chung sống với nhau, có tổ chức đám cưới năm 2009, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường H, thành phố G, tỉnh Kiên Giang ngày 19/5/2010. Cuộc sống hôn nhân không được hạnh phúc, đến khoảng tháng 01/2016 thì xảy ra mâu thuẫn gay gắt, tình trạng căng thẳng ngày càng trầm trọng, vợ chồng đã nhiều lần hàn gắn nhưng không thành vì vậy bà T và ông V đã chính thức ly thân từ tháng 7 năm 2017 đến nay. Thấy sống chung không hạnh phúc, cuộc sống hôn nhân không thể tiếp tục nên bà T yêu cầu được ly hôn.

Lý do xin ly hôn: Bà T cho rằng quá trình chung sống tính tình vợ chồng không hợp nhau, ông V không tu chí làm ăn, không quan tâm cuộc sống gia đình vợ con. Ngoài ra, không còn nguyên nhân nào khác.

Về con chung: Bà Huỳnh Thị T xác nhận có hai con chung tên Nguyễn Huỳnh Thúy V, sinh ngày 13/01/2011 và Nguyễn Trín T, sinh ngày 11/7/2017 hiện cả hai con chung đang sống cùng với bà T. Bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung, không yêu cầu chồng cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà T xác nhận không có tài sản chung và cam kết hiện nay không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Bà Huỳnh Thị T cam đoan đã trình bày đúng sự thật.

* Đối với bị đơn – ông Nguyễn Hoài V: Tòa án đã triệu tập ông Nguyễn Hoài V nhiều lần để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải hôn nhân và gia đình, đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng ông V vẫn cố tình không đến nên Tòa án tiến hành mở phiên Tòa xét xử theo quy định pháp luật.

* Tại phiên tòa:

Nguyên đơn – bà Huỳnh Thị T xác định giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn đối với ông Nguyễn Hoài V, yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung, không yêu cầu chồng cấp dưỡng nuôi con. Xác nhận không có tài sản chung, không có nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử,

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng:

- Bà Huỳnh Thị T có đơn khởi kiện xin ly hôn ông Nguyễn Hoài V có đăng ký hộ khẩu thường trú tại địa chỉ số 50/497 khu phố P, phường H, thành phố G, tỉnh Kiên Giang nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

- Bị đơn – ông Nguyễn Hoài V đã được Tòa án triệu tập hợp lệ xét xử nhưng vẫn vắng mặt, cũng không có căn cứ cho việc vắng mặt của ông V là do sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan nên căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử thống nhất xét xử vắng mặt bị đơn.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Huỳnh Thị T và ông Nguyễn Hoài V tự nguyện chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn và được UBND phường H cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 19/5/2010 nên đây là hôn nhân hợp pháp. Bà T khởi kiện cho rằng quá trình chung sống vợ chồng tính tình vợ chồng không hợp nhau, ông V không quan tâm gia đình vợ con. Bà T và ông V cũng đã ly thân từ tháng 7 năm 2017 đến nay.

Đối với bị đơn – ông Nguyễn Hoài V: Trong quá trình giải quyết vụ kiện, Tòa án đã thực hiện đầy đủ thủ tục tống đạt các văn bản tố tụng cho bị đơn theo quy định pháp luật nhưng ông V vẫn cố tình vắng mặt và không có ý kiến xác nhận hay phản đối nào đối với các yêu cầu theo đơn khởi kiện xin ly hôn của bà Huỳnh Thị T tại Toà án cũng như chứng cứ do bà T cung cấp theo quy định tại khoản 2 Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Mặt khác, tại phiên tòa xét xử bà T cũng khẳng định không thể tiếp tục chung sống với ông V, xác nhận tình cảm vợ chồng không còn khả năng hàn gắn, cuộc sống hôn nhân không thể tiếp tục, yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.

Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa ông bà đã đến mức trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được do đó sau khi nghị án Hội đồng xét xử thống nhất chấp nhận yêu cầu của bà T về việc xin ly hôn.

Về con chung: Bà Huỳnh Thị T xác nhận có hai con chung tên Nguyễn Huỳnh Thúy V, sinh ngày 13/01/2011 và Nguyễn Trín T, sinh ngày 11/7/2017, hiện cả hai con chung đang sống cùng với bà T. Bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng hai con, phù hợp với nguyện vọng của cháu Nguyễn Huỳnh Thúy V, cháu Nguyễn Trín T và phù hợp với quy định tại Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử thống nhất chấp nhận yêu cầu của bà T về việc nuôi dưỡng con chung; đồng thời ghi nhận sự tự nguyện của bà T về việc không yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà T xác nhận không có tài sản chung, và cam kết hiện nay không nợ ai, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 và Mục A Danh mục mức án phí, lệ phí Tòa án của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, nguyên đơn – bà Huỳnh Thị T phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng).

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Áp dụng: Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 và Mục A Danh mục mức án phí, lệ phí Tòa án của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016,

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Huỳnh Thị T đối với ông Nguyễn Hoài V. Bà Huỳnh Thị T được ly hôn với ông Nguyễn Hoài V.

2. Về con chung: Giao hai con chung tên Nguyễn Huỳnh Thúy V, sinh ngày 13/01/2011 và Nguyễn Trín T, sinh ngày 11/7/2017 cho bà Huỳnh Thị T trực tiếp nuôi dưỡng.

Nếu trong quá trình nuôi dưỡng con chung về sau bà T gặp khó khăn thì có quyền yêu cầu thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con hoặc yêu cầu thay đổi người nuôi con theo quy định của pháp luật tại Tòa án.

Bà Huỳnh Thị T cùng các thành viên gia đình không được cản trở ông Nguyễn Hoài V trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Bà T xác nhận không có tài sản chung, và cam kết hiện nay không có nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Nếu sau này ông Nguyễn Hoài V có tranh chấp về tài sản chung, nợ chung thì có quyền khởi kiện thành vụ kiện dân sự khác.

4. Về án phí: Bà Huỳnh Thị T phải chịu tiền án phí sơ thẩm là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0004581 ngày 13/4/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Rạch Giá, bà Huỳnh Thị T đã nộp đủ.

5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Cỡ chữ