vanban.org

Bản án 71/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1- Chị Phạm Thị T được ly hôn Anh Nguyễn Văn D;

2- Về con chung: Giao cho Chị Phạm Thị T được quyền nuôi dưỡng cả hai con Nguyễn Duy M, sinh ngày 20 tháng 12 năm 2011 và Nguyễn Duy K, sinh ngày 15 tháng 6 năm 2015 đến khi đủ 18 tuổi, hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung đối với Anh Nguyễn Vă… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phạm Thị T và Nguyễn Văn D"
  • Tòa quyết gì? 1- Chị Phạm Thị T được ly hôn Anh Nguyễn Văn D;
  • Căn cứ chính? Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN AN LÃO
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 71/2018/HNGĐ-ST
Ngày 21-11-2018
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN LÃO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đinh Duy Việt.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Đàm Công Du

Ông Vũ Văn Thôn

- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Trang là Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Lão tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị T Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở toà án nhân dân huyện An Lão tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 216/2018/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 9 năm 2018, về việc "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1536/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 31 tháng 10 năm 2018, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị T; ĐKHKTT: Xóm x, thôn N 2, xã T, huyện A, Hải Phòng; trú tại: Xóm N, xã Y, thành phố T, tỉnh Ninh Bình, có mặt tại phiên toà.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn D; trú tại: Xóm X, thôn N, xã T, huyện A, Hải Phòng; vắng mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 4 tháng 6 năm 2018 và các lời khai tại Tòa án nhân dân huyện An Lão Chị Phạm Thị T trình bày:

1.Về quan hệ hôn nhân: Chị T và Anh Nguyễn Văn D kết hôn với nhau năm 2011, trên cơ sở được tìm hiểu tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện A, thành phố Hải Phòng ngày 29 tháng 6 năm 2011. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại thôn N, xã T, huyện A, thành phố Hải Phòng. Quá trình chung sống vợ chồng đã phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính cách vợ chồng không hợp nhau, không có quan điểm chung, không tin tưởng nhau, anh D có tình cảm với người phụ khác, không quan tâm đến gia đình, vợ con, vợ chồng thường xuyên cãi chửi nhau, anh D nhiều lần chửi, đánh đập chị T, mâu Tẫn gia đình đã hòa giải nhiều lần nhưng không có kết quả, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Từ tháng 7 năm 2017, xét thấy không thể sống chung anh D được nữa, chị T đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở xã Y, thành phố T, tỉnh Ninh Bình sinh sống, vợ chồng ly thân nhau từ đó, không ai quan tâm đến ai. Nay chị T thấy tình cảm vợ chồng không còn, vợ chồng không có khả năng hàn gắn, đoàn tụ, nên đề nghị Tòa án nhân dân huyện An Lão giải quyết cho chị T được ly hôn Anh Nguyễn Văn D.

2. Về con chung: Chị Phạm Thị T và Anh Nguyễn Văn D có 02 con chung là Nguyễn Duy M, sinh ngày 20 tháng 12 năm 2011, Nguyễn Duy K, sinh ngày 15 tháng 6 năm 2015 ly hôn chị T yêu cầu được nuôi 02 con, không yêu cầu anh D phải cấp dưỡng nuôi con chung.

3. Tài sản chung, công nợ và các vấn đề khác: Chị T trình bày chị và anh D không có, không yêu cầu toà án giải quyết.

Bị đơn Anh Nguyễn Văn D đã được Tòa án triệu tập nhiều lần đến Tòa để giải quyết vụ án theo yêu cầu của chị T nhưng đều vắng mặt không có lý do, không trình bày ý kiến, đề nghị của mình đối với yêu cầu xin ly hôn của chị T.

Tại phiên tòa đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Lão phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Nguyên đơn là Chị Phạm Thị T có đơn khởi kiện về việc ly hôn và tranh chấp nuôi con, Anh Nguyễn Văn D là bị đơn trong vụ án đã được Tòa án thông báo về việc thụ lý vụ án. Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn đã cơ bản thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật, bị đơn không đến tham gia tố tụng tại tòa là đã không thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại các điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ vụ án, diễn biến tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn đề nghị giải quyết Chị Phạm Thị T được ly hôn Anh Nguyễn Văn D, giao cho chị T được nuôi 02 con chung; về cấp dưỡng nuôi con chị T không yêu cầu nên tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh D; về án phí chị T phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên toà, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

- Về tố tụng:

[1] Về thẩm quyền: Đây là vụ án về việc ly hôn và tranh chấp nuôi con, theo quy định tại khoản 1 Điều 28 và điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì thẩm quyền giải quyết tranh chấp Tộc Tòa án nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng.

Về việc vắng mặt của bị đơn Anh Nguyễn Văn D: Anh Nguyễn Văn D vắng mặt lần thứ 02 không có lý do, căn cứ quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt Anh Nguyễn Văn D.

- Về yêu cầu của nguyên đơn Chị Phạm Thị T:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị T kết hôn với Anh Nguyễn Văn D, trên cơ sở được tìm hiểu tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 29 tháng 6 năm 2011, tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện A, Hải Phòng, căn cứ vào khoản 1 Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình, xác định đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống trên cơ sở lời khai của các đương sự, biên bản xác minh của Tòa án thấy: Trong thời gian chung sống chị T và anh D đã phát sinh mâu Tẫn, nguyên nhân do tính cách hai người không hợp nhau, không thông cảm, chia sẻ với nhau, không tin tưởng nhau, anh D không quan tâm đến gia đình vợ con, vợ chồng thường xuyên cãi nhau, mỗi lần cãi nhau anh D lại chửi bới, đánh đập chị T gây ảnh hưởng đến sức khỏe, tinh thần của chị T dẫn đến tình trạng cuộc sống chung của vợ chồng luôn nặng nề, căng thẳng, mâu Tẫn kéo dài, mặc dù gia đình khuyên bảo, hòa giải nhiều lần nhưng không có kết quả, tháng 7 năm 2017 chị T về nhà mẹ đẻ sinh sống, vợ chồng đã ly thân nhau, không ai quan tâm đến ai. Căn cứ vào khoản 1, 2 Điều 19 của Luật Hôn nhân và gia đình, xác định mâu Tẫn của chị T, anh D đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Việc chị T xin ly hôn anh D là có căn cứ, phù hợp Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, nên Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của chị T được ly hôn anh D.

Về con chung: Chị T và anh D có 02 con chung là Nguyễn Duy M, sinh ngày 20 tháng 12 năm 2011, Nguyễn Duy Kh, sinh ngày 15 tháng 6 năm 2015, chị T có nguyện vọng được nuôi 02 con, anh D không có đề nghị nuôi con. Xét chị T có việc làm, có T nhập ổn định khoảng 7.000.000đ/tháng, đảm bảo được việc nuôi con; hai con của chị T, anh D đang ở với chị T, được chị T nuôi dạy tốt, đảm bảo quyền lợi mọi mặt của các cháu, từ tháng 7 năm 2017, anh D không có ý kiến gì về việc chị T nuôi dạy con. Nên căn cứ vào Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình, giao cho chị T nuôi dưỡng cả 02 con là cháu Nguyễn Duy M, Nguyễn Duy K theo đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp. Về cấp dưỡng nuôi con, chị T không yêu cầu nên tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con đối với Anh Nguyễn Văn D.

Về tài sản chung, công nợ và các vấn đề khác: Các đương sự không yêu cầu, Hội đồng xét xử không xét.

Về án phí: Chị T phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 266, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào quy định tại các điều 19, 51, 53, 56, 57 và các điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức T, miễn giảm, T, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1- Chị Phạm Thị T được ly hôn Anh Nguyễn Văn D;

2- Về con chung: Giao cho Chị Phạm Thị T được quyền nuôi dưỡng cả hai con Nguyễn Duy M, sinh ngày 20 tháng 12 năm 2011 và Nguyễn Duy K, sinh ngày 15 tháng 6 năm 2015 đến khi đủ 18 tuổi, hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung đối với Anh Nguyễn Văn D.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không được ai cản trở.

3. Về án phí: Chị Phạm Thị T phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai số 0016953 ngày 06 tháng 9 năm 2018, của Chi cục Thi hành án huyện An Lão, chị T đã nộp đủ án phí.

Về quyền kháng cáo bản án:

Chị Phạm Thị T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, Anh Nguyễn Văn D có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Cỡ chữ