vanban.org

Bản án 71/2017/HSST — Hình sự

TAND huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La Tuyên án 11/07/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố b cáo Tr n Th H phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt b cáo Tr n Th H 30 (Ba mư i) tháng tù giam. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam, tạm giữ (ngày 11/3/2017). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Thị H - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố b cáo Tr n Th H phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
  • Căn cứ chính? Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 194 Bộ luật Hình sự; Điều 46 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MAI SƠN
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 71/2017/HSST
Ngày 11 tháng 7 năm 2017

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI SƠN TỈNH SƠN LA

Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà ò Th Ch

Các hội thẩm nhân dân: Ông Hà Văn S

Ông Nguyễn Đức Việt

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên tòa: Bà Đinh Th Phư ng Thúy, cán bộ Tòa án nhân dân huyện Mai S n, tỉnh S n a.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai S n, tỉnh S n a tham gia phiên tòa: Bà Phạm Th Quỳnh Ngọc - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 7 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mai S n, tỉnh S n a xét xử s thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 75/2017/HSST ngày 23 tháng 6 năm 2017 đối với b cáo:

TRẦN THỊ H. Tên gọi khác: Không; Sinh năm 1969 tại huyện Mai S n, tỉnh S n a. N i đăng ký nhân khẩu thường trú: Tiểu khu A, xã B, huyện Mai S n, tỉnh S n a; N i ở hiện nay: Bản C, xã D, huyện Mai S n, tỉnh S n a; Nghề nghiệp: Buôn bán; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Đảng phái, đoàn thể: không; Trình độ học vấn: 03/12

Con ông: Tr n Văn (đã chết) và con bà: Ngô Th N, sinh năm 1931. B cáo có chồng là Bùi Xuân Q ( đã ly hôn) có 02 con sinh năm 1984 và sinh năm 1991.

Tiền án, tiền sự: không.

B cáo đang b tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh S n a từ ngày 11/03/2017 cho đến nay. Có m t tại phiên tòa.

NHẬN THẤY:

B cáo Tr n Th H b Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai S n truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Hồi 11 giờ 30 phút ngày 11/3/2017, Tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế - ma túy Công an huyện Mai S n, tỉnh S n a đang làm nhiệm vụ tại khu vực bản C, xã D, huyện Mai S n, tỉnh S n a phát hiện Tr n Th H có biểu hiện nghi vấn tàng trữ trái phép chất ma túy, đã yêu c u H có ma tuý thì tự giác giao nộp, H tự giác giao nộp 01 gói bằng tờ tiền mệnh giá 5.000VNĐ, bên trong chứa chất bột nén màu H nghi là hồng phiến. Tổ công tác tiến hành khám xét người H thu giữ tại áo ngực bên phải H đang m c 01 lọ nhựa màu trắng nhãn hiệu Vitamine B1 bên trong chứa chất bột nén màu trắng nghi là hêrôin. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ và niêm phong vật chứng gồm 01 gói nhỏ và 01 lọ nhựa nêu trên, 01 túi vải thổ cẩm màu đỏ đen.

Cùng ngày, C quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mai S n đã tiến hành khám xét khẩn cấp đối với nhà ở, đồ vật của Tr n Th H tại bản C, xã D, huyện Mai S n. Quá trình khám xét phát hiện thu giữ 01 cân tiểu ly điện tử vỏ màu xanh đen kích thước 7 x 15cm tại giường ngủ của H; 01 xilanh loại 3ml/cc đã qua sử dụng thu giữ tại chân giường ngủ của H; 01 gói được gói bên ngoài bằng băng dính màu đen, tiếp đến là giấy màu đen, bên trong chứa chất bột nén màu trắng thu giữ tại ngăn bên trái tủ qu n áo của H.

Ngày 12/3/2017, C quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mai S n phối hợp với Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh S n a tiến hành cân t nh, xác đ nh trọng lượng vật chứng thu giữ của Tr n Th H kết quả:

+ Chất bột màu hồng thu giữ khi bắt quả tang H có trọng lượng 0,028 gam, trích rút 0,028 gam kí hiệu M1 làm mẫu giám đ nh.

+ Chất bột nén màu trắng thu giữ khi bắt quả tang H có trọng lượng 0,148 gam, trích rút 0,148 gam kí hiệu M2 làm mẫu giám đ nh.

+ Chất bột nén màu trắng thu giữ khi khám xét nhà H có trọng lượng 880,66 gam, trích rút 21,88 gam kí hiệu M3 làm mẫu giám đ nh, vật chứng còn lại 858,78 gam kí hiệu T.

Tại kết luận giám đ nh số 331/K MT ngày 15/3/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh S n a kết luận:

“- Mẫu vật gửi giám định kí hiệu M1 là chất ma tuý, loại chất Methamphetamine; trọng lượng của mẫu gửi giám định là M1=0,028 gam..

- Mẫu vật gửi giám định ký hiệu M2 là chất ma tuý; loại chất hêrôin, trọng lượng của mẫu gửi giám định là M2=0,148 gam.

- Mẫu vật gửi giám định ký hiệu M3 không xác định là chất gì.

- Tổng trọng lượng chất ma tuý thu giữ được là 0,148 gam loại chất Heroin và 0,028 gam loại chất Methamphetamine."

Quá trình điều tra Tr n Th H khai nhận:

Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 11/3/2017, Tr n Th H điều khiển xe máy hiệu Honda Airblade BKS: 26B1- 314.94 đi từ nhà ở tại bản C, xã D, huyện Mai S n đến Trung tâm điều tr Methadone thuộc Bệnh viện đa khoa huyện Mai S n để uống thuốc. Khi đến phòng phát thuốc, H g p Nguyễn Đăng E (sinh năm 1973, trú tại tiểu khu F, th trấn G, huyện Mai S n). Sau khi uống thuốc xong, ở cổng Trung tâm bệnh viện H hỏi mua của E 200.000VNĐ hêrôin và 01 viên hồng phiến. E đồng ý và bảo H đợi rồi đi bộ ra v trí đỗ xe ô tô cách H khoảng 5m. Khoảng 5 phút sau E quay lại đưa cho H 02 gói nhỏ trong đó 01 gói được gói bằng mảnh nilon màu đen bên trong chứa chất bột màu trắng và 01 gói được gói bằng giấy trắng bên trong chứa 01 viên nén màu H trên bề m t có kí tự WY. H kiểm tra xác đ nh đúng là hêrôin, hồng phiến và trả tiền cho E rồi điều khiển xe máy đi về nhà. Khi về đến nhà H lấy một ph n hêrôin và 1/2 viên hồng phiến nghiền nhỏ để sử dụng (bằng hình thức tiêm chích qua đường tĩnh mạch). Sau đó, H cho số hêrôin còn lại vào 01 lọ nhựa màu trắng nhãn hiệu Vitamine B1 cất giấu vào túi áo ngực bên phải H đang m c, số hồng phiến còn lại H gói vào tờ tiền mệnh giá 5.000VNĐ và cất vào túi vải thổ cẩm màu đỏ đen. Vỏ nilon màu đen và mảnh giấy trắng gói ma tuý ban đ u H cho vào bếp ga đốt cháy hết. Đến khoảng 15 giờ 00 phút cùng ngày H b tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế - ma tuý Công an huyện Mai S n bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý, phát hiện thu giữ những vật chứng nêu trên.

Đối với chất bột màu trắng thu giữ khi khám xét nhà, H khai đó là xi măng trắng H cất giữ trong tủ qu n áo để chống ẩm.

Tại bản cáo trạng số: 55/KSĐT-AN ngày 23/6/2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai S n đã truy tố b cáo Tr n Th H về tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo quy đ nh tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự

Tại phiên tòa s thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai S n đã phát biểu ý kiến, giữ nguyên quan điểm truy tố b cáo Tr n Th H phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy và đề ngh hội đòng xét xử tuyên bố b cáo Tr n Th H phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự.

Xử phạt b cáo Tr n Th H từ 24 đến 30 tháng tù giam.

Về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với b cáo.

- Về vật chứng của vụ án đề ngh áp dụng Điều 41 B HS khoản 1, 2 điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tuyên t ch thu tiêu huỷ: 01 tờ tiền mệnh giá 5.000VNĐ; 01 lọ nhựa màu trắng nhãn hiệu Vitamine B1; 01 túi vải thổ cẩm màu đỏ đen; 858,78 gam chất bột màu trắng; 01 xilanh loại 3ml/cc; 01 cân tiểu ly.

B cáo phải ch u án phí hình sự s thẩm theo quy đ nh của pháp luật.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên c sở xem xét toàn diện, đ y đủ chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, lời khai của b cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.

XÉT THẤY:

Tại phiên tòa b cáo Tr n Th H khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã khai tại c quan điều tra, số hêrôin của b cáo b Tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế - ma túy Công an huyện Mai S n thu giữ có nguồn gốc là b cáo mua được của Nguyễn Đăng E, mục đích để sử dụng cho bản thân nghiện chất ma túy. ời khai của b cáo không có nội dung gì thay đổi, b cáo không khai gì thêm so với lời khai của mình tại C quan cảnh sát điều tra, b cáo khẳng đ nh việc khai báo tại C quan điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay là hoàn toàn tự nguyện và đúng với sự việc b cáo đã thực hiện.

Xét lời khai của b cáo là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Tr n Th H do Tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế - ma tuý Công an huyện Mai S n lập hồi 15 giờ 00 phút, ngày 11/3/2017, biên bản thu giữ vật chứng, biên bản mở niêm phong xác đ nh trọng lượng lấy mẫu giám đ nh, bản kết luận giám đ nh số 331/KLMT ngày 15/3/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh S n a kết luận chất bột màu trắng trong mẫu ký hiệu M1 gửi giám đ nh là Methamphetamin (Methamphetamin là nằm trong danh mục II, STT: 67 Ngh đ nh 82/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ); mẫu ký hiệu M1 gửi đi giám đ nh là Hêrôin (Hêrôin nằm trong danh mục I, STT: 20 Ngh đ nh 82/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ). ời khai của b cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng trong quá trình điều tra và các tài liệu chứng cứ của c quan điều tra đã thu thập được trong hồ s vụ án.

Từ những chứng cứ nêu trên HĐXX xét thấy: Do nghiện chất ma tuý nên ngày 11/3/2017 b cáo Tr n Th H có hành vi mua 200.000VNĐ Heroin, hồn phiến nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Căn cứ tiểu mục 2.5, mục 2, ph n I Thông tư liên t ch số: 17/TT T-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 24/12/2 về việc hướng dẫn áp dụng một số quy đ nh tại Chư ng XVIII các tội phạm về ma túy của Bộ luật Hình sự năm 1999 thì trọng lượng ma túy thu giữ của Tr n Th H được xác đ nh như sau:

- Tỉ lệ % về trọng lượng hàm lượng ma túy tổng hợp so với mức tối thiểu quy đ nh tại điểm m khoản 2 Điều 194 B HS là: 0,028gam x 100/20 = 0,14%.

- Tỉ lệ % về trọng lượng hàm lượng hêrôin so với mức tối thiểu quy đ nh tại điểm h khoản 2 Điều 194 B HS là: 0,148gam x 100/5 = 2,96%.

Tổng ph n trăm của các chất ma túy b cáo H tàng trữ là 1,14% + 2,96% = 3,1% dưới mức tối thiểu quy đ nh tại khoản 2 Điều 194 B HS. Như vậy, có đủ căn cứ để kết luận b cáo Tr n Th H phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" quy đ nh tại khoản 1 điều 194 Bộ luật hình sự. Việc viện kiểm sát truy tố và tòa án xét xử b cáo là hoàn toàn chính xác, đúng người, đúng tội, không oan sai cho b cáo.

Hội đồng xét xử xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của b cáo thì thấy rằng: B cáo là người có đ y đủ năng lực ch u trách nhiệm về hình sự, dân sự. Nhận thức được việc tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật. Nhưng b cáo đã cố ý mua trái phép 0,148gam hêrôin và 0,028 gam Methamphetami về tàng trữ để sử dụng cho bản thân. Hành vi của b cáo đã xâm phạm vào chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về ma túy, gây mất trật tự tr an xã hội, tiếp tay cho các đối tượng hám lời có c hội lưu thông buôn bán ma túy. Hành vi của b cáo là nguy hiểm, vì lẽ đó khi lượng hình c n phải áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc, tư ng xứng với hành vi phạm tội mà b cáo đã thực hiện.

Xét về tình tiết tăng n ng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với b cáo: B cáo không có tình tiết tăng n ng trách nhiệm hình sự nhưng b cáo có nhân thân xấu, b cáo là đối tượng nghiện chất ma tuý, b cáo đã 01 l n b Tòa án nhân dân huyện Mai S n, tỉnh S n a xử phạt 30 tháng tù giam về tội mua bán trái phép chất ma túy tại Bản án số 08/HSST ngày 02/3/2001; m c dù b cáo đã được giáo dục cải tạo một thời gian dài nhưng b cáo vẫn bất chấp pháp luật, tiếp tục phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng, do đó xét thấy c n thiết cách ly b cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất đ nh mới có tác dụng cải tạo giáo dục đối với b cáo, đồng thời có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Tuy nhiên khi lượng hình cũng c n xem xét tình tiết: Quá trình điều tra và tại phiên toà ngày hôm nay b cáo đều có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy đ nh tại điểm p khoản 1 Điều 46 B HS. Theo quy đ nh tại Ngh quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 về việc thi hành Bộ luật hình sự số 100/2015ực hiện các quy đ nh có lợi cho người phạm tội tại khoản 3 Điều 7 Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 và điểm b khoản 1 Điều 1 Ngh quyết số 109/2015/QH13 về việc thi hành Bộ luật Hình sự khi lượng hình nên khi quyết đ nh hình phạt c n áp dụng theo hướng có lợi cho b cáo.

Về hình phạt bổ sung: Quá trình điều tra và thẩm vấn công khai tại phiên toà thấy rằng, b cáo là đối tượng nghiện chất ma túy, b cáo không có tài sản riêng có giá tr do đó không áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với b cáo.

Về nguồn gốc số Hêrôin quá trình điều tra và tại phiên tòa b cáo H khai mua của Nguyễn Đăng E. Tuy nhiên qua đấu tranh E không thừa nhận đã bán ma tuý cho H, quá trình mua bán ngoài H và E không có ai khác biết, chứng kiến, nên C quan Điều tra không có căn cứ để mở rộng vụ án.

Về vật chứng của vụ án gồm:

Đối 01 tờ tiền mệnh giá 5.000VNĐ; 01 lọ nhựa màu trắng nhãn hiệu Vitamine B1; 01 túi vải thổ cẩm màu đỏ đen; 858,78gam chất bột màu trắng; 01 xilanh loại 3ml/cc; 01 cân tiểu ly điện tử. Xét thấy đây những vật có liên quan đến việc phạm tội và không có giá tr sử dụng nên c n tuyên t ch thu tiêu hủy.

B cáo phải ch u án phí HSST theo quy đ nh của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố b cáo Tr n Th H phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

1. Áp dụng khoản 1, Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự:

Xử phạt b cáo Tr n Th H 30 (Ba mư i) tháng tù giam.

Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam, tạm giữ (ngày 11/3/2017).

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với b cáo .

2. Áp dụng Điều 41 B HS khoản 1, 2 điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tuyên t ch thu tiêu huỷ: 01 tờ tiền mệnh giá 5000VNĐ; 01 lọ nhựa màu trắng nhãn hiệu Vitamine B1; 01 túi vải thổ cẩm màu đỏ đen; 858,78 gam chất bột màu trắng; 01 xilanh loại 3ml/cc; 01 cân tiểu ly.

3. Về án phí: Áp dụng khoản 1, 2 Điều 99 B TTHS, điểm a khoản 1 Điều 23 Ngh quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy đ nh về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc b cáo Tr n Th H phải ch u án phí hình sự s thẩm là 200.000 VNĐ.

Báo cho b cáo biết được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án s thẩm./.

Cỡ chữ