vanban.org

Bản án 71/2017/HSST — Hình sự

TAND huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên Tuyên án 30/10/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Hoàng Văn P phạm tội: " Vi phạm quy định về điều khiển phƣơng tiện giao thông đƣờng bộ ". Áp dụng điểm c khoản 2 điều 202; điểm b, p khoản 1 và khoản 2 điều 46; khoản 1và khoản 2 điều 60 của Bộ luật hình sự; ; Khoản 4 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 5 điều 202; điều 36; khoản 3 điều 60 của Bộ luật hình sự; khoản 1 điều 76 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Xử: Cấm Hoàng Văn P hành nghề lái xe ô tô trong thời gian 01 (Một) năm kể từ ngày bản án này có hiệu lực pháp luật. Lƣu giữ tại Hồ sơ vụ án hình sự này một giấy phé… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Văn P “ Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” - phạm tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thô…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Hoàng Văn P phạm tội: " Vi phạm quy định về điều khiển phƣơng tiện giao thông đƣờng bộ ". Áp dụng điểm c khoản 2 điều 202; điểm b, p khoản 1 và khoản 2 điều 46; khoản 1và khoản 2 điều 60 của Bộ luật hình sự; ; Khoản 4 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 60 Bộ luật Hình sự; Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 202 Bộ luật Hình sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN KHOÁI CHÂU

Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc.

TỈNH HƢNG YÊN

-------------------------------

---***---

- Bản án số:71/2017/HSST

- Ngày 30/10/2017.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KHOÁI CHÂU TỈNH HƢNG YÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

-Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Thế Phƣơng

- Hội thẩm nhân dân: + Ông Trần Xuân Hòa – Nguyên Chủ tịch MTTQ xã An Vỹ.

+ Ông Nguyễn Đức Tuân – Cán bộ hƣu trí xã Phùng Hƣng.

- Thƣ ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Loan – Cán bộ Thƣ ký Toà án .

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Khoái Châu tham gia phiên toà: - bà Lê Thị Chung – Kiểm sát viên. Hôm nay ngày 30/10/2017 tại trụ sở Tòa án nhân nhân huyện Khoái Châu mở phiên toà công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 72/2017/HSST ngày 17/10/2017 về tội “ Vi phạm quy định về điều khiển phƣơng tiện giao thông đƣờng bộ” đối với bị cáo:

- HOÀNG VĂN P sinh năm:1983

Sinh quán HKTT tại: Thôn C xã T huyện Th tỉnh Hải Dƣơng. Quốc tịch: Việt nam ;

Dân tộc: Kinh;

Tôn giáo: Không Trình độ văn hoá: Lớp 12/12 ;

Nghề nghiệp: Lái xe. Con ông: Hoàng Văn J - Sinh năm 1956. Con bà: Nguyễn Thị Â( Đã chết).

(Anh chị em ruột: có hai ngƣời, P là con út). Vợ: Hoàng Thị Ƣ- Sinh năm 1988. Con: Có một con sinh năm 2012. Tiền án, tiền sự: Chƣa. Bị tạm giữ từ ngày 21/06/2017. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ của Công an huyện K.

( Bị cáo Hoàng Văn P có mặt tại phiên toà) * - Ngƣời bị hỏi:- chị Vũ Hoàng C - Sinh năm 1997 ở thôn A xã Ă huyện Đ tỉnh Hƣng Yên. ( Đã chết).

- Ngƣời đại diện cho gia đình chị Vũ Hoàng C là: ông Vũ Trung Kiên ( sinh năm 1972 ở thôn A xã Ă huyện Đ tỉnh Hƣng Yên) và bà Hoàng Thị W( sinh năm 1972 ở thôn Á xã Ơ huyện I tỉnh Hƣng Yên). (Đều vắng mặt tại phiên toà). * - Những ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: 1/- anh Lê Văn L – Sinh năm 1974. + Trú tại: Thôn H xã V huyện G tỉnh Hƣng Yên (Vắng mặt tại phiên tòa). 2/- anh Nguyễn Quốc Đ – Sinh năm 1993. + Trú tại: Thôn Tr xã N huyện Đ tỉnh Hƣng Yên (Vắng mặt tại phiên tòa). 3/- ông Nguyễn Văn Q – Sinh năm 1970. + Trú tại: Thôn Tr xã N huyện Đ tỉnh Hƣng Yên (Vắng mặt tại phiên tòa). 4/- anh Lê Quý QQ – Sinh năm 1975. + Trú tại: Thôn P xã B huyện Th tỉnh Hải Dƣơng. (Vắng mặt tại phiên tòa). 5/- chị Hoàng Thị Ƣ – Sinh năm 1988. + Trú tại: Thôn C xã T huyện Th tỉnh Hải Dƣơng. (Có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau: Khoảng 15 giờ ngày 06/5/2017 Hoàng Văn P có giấy phép lái xe hợp lệ điều khiển ô tô đầu kéo biển số 34M – 0772 kéo theo sơ mi rơ moóc biển số 34R – 005.10 của Công ty trách nhiệm hữu hạn thƣơng mại và dịch vụ Phƣơng Bắc ở thôn P, xã B,huyện Th, tỉnh Hải Dƣơng để đi sang nƣớc bạn Lào chở hàng. Đến khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày, P điều khiển xe đi trên Quốc lộ 39A theo hƣớng ngã tƣ Phố Nối đi thành phố Hƣng Yên. P cho xe chạy với vận tốc khoảng 40km/h, khi đến đoạn đƣờng thuộc địa phận thôn Ô, xã VH, huyện K, tỉnh Hƣng Yên, P quan sát thấy ở phía trƣớc có hai chiếc xe ô tô tải (không rõ biển số) đi theo chiều ngƣợc lại và lấn sang phần đƣờng mà P đang điều khiển xe ô tô nói trên. Nên P đã đánh lái sang phải theo hƣớng xe chạy để tránh hai xe ngƣợc chiều, do vậy một phần xe ô tô của P đã đi lấn vào làn đƣờng dành cho xe thô sơ và ngƣời đi bộ. Khi hai chiếc xe ô tô tải đi qua thì cũng là lúc P phát hiện thấy ở phía trƣớc cùng chiều, cách đầu xe của P khoảng 15m có anh Nguyễn Quốc Đ sinh năm 1993 ở thôn Tr, xã N, huyện Đ, tỉnh Hƣng Yên (có giấy phép lái xe hợp lệ) đang điều khiển xe mô tô biển số 89D1-072.91 chở theo sau là chị Vũ Hoàng C sinh năm 1997 ở thôn A, xã Ă, huyện Đ, tỉnh Hƣng Yên, đang đi ở phần đƣờng dành cho xe thô sơ và ngƣời đi bộ. Thấy vậy, P đã đánh lái điều khiển cho xe ô tô trở về làn đƣờng của mình để tránh xe mô tô của anh Đ, đầu xe ô tô đã tránh vƣợt đƣợc xe mô tô nhƣng thành xe ô tô phía sau bên phải và rơ mooc kéo sau đã va vào xe mô tô của anh Đ làm xe mô tô đổ rê về phía trƣớc. Anh Đ ngã vào lề đƣờng bị thƣơng nhẹ, còn chị C bị ngã văng xuống đƣờng, bánh sau bên phải của xe ô tô chèn ép qua đầu và ngƣời làm chị C tử vong tại hiện trƣờng. Khi đó P có nhìn qua gƣơng chiếu hậu thấy xe mô tô của anh Đ bị đổ gần đầu xe ô tô nhãn hiệu THACO biển số 89C – 075.22 của anh Lê Văn L ở thôn H, xã Vi, huyện G, tỉnh Hƣng Yên đang đỗ tại mép đƣờng bên phải, đầu xe hƣớng thành phố Hƣng Yên, sau xe hƣớng Phố Nối nhƣng P không dừng xe lại mà vẫn tiếp tục điều khiển xe ô tô bỏ chạy. Ngay lúc đó, có ông Nguyễn An Hn ở thôn Tr, xã N, huyện Đ là ngƣời đang điều khiển xe mô tô phía sau xe ô tô của P nhìn thấy vụ tai nạn trên nên đã đuổi theo xe ô tô của P. Cùng lúc này có ông Phạm Văn Mz thôn Ô, xã VH, huyện K cũng nhìn thấy vụ việc nhƣ trên, nên bảo ông Hoàng Văn Tr là ngƣời cùng thôn điều khiển xe mô tô chở ông M đuổi theo xe ô tô của P. Khi xe ông Tr đi gần đến xe ô tô của P, ông Trđiều khiển xe áp sát đầu xe phía bên ghế lái rồi ông Mdùng tay vẫy và nói to “Mày đỗ lại đi mày đâm chết ngƣời ta rồi”; nhƣng P vẫn tiếp tục điều khiển xe đi, ông M lại vẫy tay và nói nhƣ trên thì P mới điều khiển xe giảm tốc độ rồi dừng lại. Sau khi vụ việc xảy ra Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện K đã tiến hành khám nghiệm hiện trƣờng, quản lý 01 xe ô tô đầu kéo biển số 34M – 0772 kéo theo sơ mi rơ moóc biển số 34R – 005.10, 01 xe ô tô nhãn hiệu THACO biển số 89C – 075.22, 01 xe mô tô biển số 89D1-07291 và khám nghiệm dấu vết của các phƣơng tiện trên; khám nghiệm tử thi Vũ Hoàng C; quản lý các giấy tờ liên quan gồm: 01 giấy phép lái xe hạng FC mang tên Hoàng Văn P, 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô đầu kéo số 010740, 01 giấy chứng nhận kiểm định của xe ô tô đầu kéo số 2355937; 01 giấy chứng nhận đăng ký sơ mi rơ moóc số 000026, 01giấy chứng nhận kiểm định sơ mi rơ moóc số 0026600; 01 giấy phép lái xe hạng B2 mang tên Lê Văn L, 01giấy chứng nhận đăng ký và 01 giấy chứng nhận kiểm định xe ô tô biển số 89C – 07522. Khám nghiệm hiện trƣờng xác định: Đƣờng 39A nơi xảy ra vụ tai nạn là đoạn đƣờng thẳng, đƣợc trải nhựa bằng phẳng, mặt đƣờng rộng 11,5m, giữa đƣờng có vạch kẻ sơn màu vàng đứt quãng để phân chia hai chiều đƣờng xe chạy, ở mỗi chiều đƣờng đều có vạch kẻ sơn liền màu trắng để phân chia làn đƣờng dành cho xe thô sơ và làn đƣờng dành cho xe cơ giới. Khám nghiệm theo chiều ngã tƣ Phố Nối về hƣớng thành phố Hƣng Yên là chiều khám nghiệm. Thống nhất lấy đầu hồi bên phải nhà ông Tn làm mốc cố định. Hiện trƣờng để lại đám cà xƣớc mặt đƣờng ký hiệu vết số 1, kích thƣớc (7,4 x 1,2)m, phát triển theo chiều ngã tƣ Phố Nối đi thành phố Hƣng Yên, điểm đầu đám cà xƣớc cách mép đƣờng phải 1m, điểm cuối cách mép đƣờng phải 1,4m. Điểm cuối của đám cà xƣớc là cần để chân phía sau bên trái xe mô tô biển số 89D1 - 07291 đổ nghiêng trái, đầu xe hƣớng vào mép đƣờng phải, sau xe hƣớng mép đƣờng trái; trục bánh trƣớc xe mô tô cách mép đƣờng phải 0,65m, trục bánh sau cách mép đƣờng phải 1,63m. Đầu xe mô tô tiếp xúc với má lốp ngoài bánh xe phía sau bên trái xe ô tô tải biển số 89C - 07522 đang đỗ trên hành lang đƣờng, đầu xe quay hƣớng thành phố Hƣng Yên, sau xe quay hƣớng Phố Nối; trục trƣớc bên trái cách mép đƣờng phải 0,35m, trục sau bên trái cách mép đƣờng phải 0,2m. Cách vết số 1 ra mép đƣờng trái 1m và đo vuông góc về hƣớng thành phố Hƣng Yên 7,5m là gót chân trái tử thi nữ giới nằm nghiêng về phía mép đƣờng trái, đầu tử thi quay về hƣớng thành phố Hƣng Yên, chân tử thi quay về hƣớng ngã tƣ Phố Nối; đầu tử thi cách mép đƣờng phải 1,7m, gót chân tử thi cách mép đƣờng phải 2,05m. Đo từ gót chân trái tử thi vào mép đƣờng phải là 1m và đo vuông góc về hƣớng thành phố Hƣng Yên 0,6m là tâm đám máu có biểu bì màu trắng ký hiệu vết số 2, kích thƣớc (0,27 x 0,23)m, tâm đám máu cách mép đƣờng phải 2,65m. Xung quanh đầu của tử thi có đám máu loang ký hiệu vết số 3. kích thƣớc (0,6 x 0,4)m. Cách điểm đầu vết số 01 về hƣớng ngã tƣ Phố Nối 8,3m và đo vuông góc vào lề đƣờng phải 6,85m là đầu hồi bên phải nhà ông Tn. Khám nghiệm xe ô tô đầu kéo biển số 34M - 0772 kéo theo sơ mi rơ moóc biển số 34R – 00510 xác định: Phía ngoài xe ô tô đầu kéo không phát hiện dấu vết mới đƣợc tạo nên; kiểm tra sơ mi rơ moóc biển số 34R – 00510 xác định cạnh bên phải khung kim loại đỡ máy phát điện (cung cấp điện cho giàn lạnh thùng xe), kích thƣớc (1,77 x 0,73 x 0,90)m, mặt ngoài dƣới thanh dọc bên ngoài dƣới giá đỡ máy phát điện để lại vết mài miết sạch bụi đất, kích thƣớc (1,25 x 0,60)m, chiều phát triển từ trƣớc về sau xe, điểm gần nhất của vết này cách đầu phía trƣớc thanh dọc này 0,42m. Tại mặt ngoài thanh dọc này có vết sạt sạch bụi đất, kích thƣớc (0,91 x 0,04)m. Tại mặt ngoài phía dƣới thanh kim loại phía cuối giá đỡ máy phát điện còn để lại vết sạt sạch bụi đất xƣớc sơn màu đỏ, kích thƣớc (0,14 x 0,06)m. Má trong lốp ngoài bánh xe ngoài trục thứ ba bên phải tính từ sau xe về đầu xe còn để lại vết sạt cao su sạch bụi đất kích thƣớc (0,55 x 0,07)m, điểm gần nhất của vết sạt cao su này cách dòng chữ TY258 là 0,20m. Tƣơng ứng với vết sạt cao su này tại má ngoài lốp trong bánh kép trục thứ ba bên phải là vết sạt cao su sạch bụi đất có kích thƣớc (0,25 x 0,06)m, phát triển theo chiều từ mặt lăn vào tâm trục. Tại mặt trên thanh dọc khung kim loại phía dƣới cùng của giá đỡ máy phát điện bên phải để lại mảnh nhựa màu đen, hình tứ giác gồm các cạnh có kích thƣớc (2,3 x 2,2 x 1,2 x 0,7)cm. Đo thẳng từ điểm đầu nhọn hƣớng ra phía ngoài xe của mảnh nhựa này về phía sau xe 0,29m là điểm cuối của thanh dọc kim loại giá đỡ máy phát điện đo từ điểm đầu nhọn của mảnh nhựa này xuống mặt đƣờng là 0,33m. Cơ quan điều tra đã thu giữ, niêm P mảnh nhựa trên để tiến hành giám định, xác định dấu vết cơ học va chạm giữa xe ô tô đầu kéo biển số 34M - 0772 kéo theo sơ mi rơ moóc biển số 34R – 005.10 với xe mô tô nhãn hiệu HONDA biển số 89D1 - 072.91 và xác định mảnh nhựa thu trên thanh kim loại trên xe ô tô đầu kéo biển số biển số 34M - 0772 kéo theo sơ mi rơ moóc biển số 34R – 005.10 có phải là mảnh nhựa vỡ từ xe mô tô biển số 89D1 - 072.91 hay không và vỡ ở vị trí nào của xe mô tô.

Khám nghiệm xe mô tô biển số 89D1 – 072.91 xác định: Gƣơng chiếu hậu trƣớc bên trái, bên phải bị lực tác động làm gãy bật khỏi chân gƣơng; đầu tay nắm phía trƣớc bên trái để lại vết sạt kim loại; mặt ngoài cánh yếm chắn gió phía trƣớc bên trái có vết sạt nhựa, kích thƣớc (0,20 x 0,06)m; giá để chân phía sau bên trái có vết cọ sát sạt kim loại, kích thƣớc (0,03 x 0,01)m, chiều phát triển từ trƣớc về sau trên bề mặt vết này có dính chất màu đen; má lốp phía trƣớc bên phải có vết sạt cao su, kích thƣớc (0,20 x 0,06)m; ốp nhựa bảo vệ đèn xin nhan phía sau bên phải bị lực tác động làm vỡ nhựa, kích thƣớc (0,07 x 0,04)m; cạnh ngoài bên phải ốp kim loại bảo vệ phần biển số xe phía sau bên phải có vết cọ sát sạt kim loại bám dính tạp chất màu đen kích thƣớc (0,13 x 0,005)m; mặt ngoài cuối ốp kim loại bảo vệ ống xả phía sau bên phải có vết cọ sát sạt kim loại dính tạp chất màu đen, đỏ có kích thƣớc (0,09 x 0,02)m; mặt ngoài cuối ốp nhựa bảo vệ ống xả phía sau bên phải xe có vết vỡ làm mất mảnh nhựa tạo khoảng trống hình tứ giác, kích thƣớc (2,3 x 2,2 x 1,2 x 0,7)cm; Thanh kim loại đỡ ống xả gần với trục sau bên phải bị lực tác động làm gãy đứt đoạn, mặt dƣới thanh kim loại này còn để lại vết cọ sát sạt kim loại dính chất màu đỏ kích thƣớc (10 x01)cm; mặt dƣới phía sau đuôi ống xả bên phải có vết hằn trƣợt xƣớc biến dạng kim loại bám dính chất bẩn (dạng bụi đất và dầu mỡ) có kích thƣớc (8 x 0,6)cm. Khám nghiệm xe ô tô biển số 89C – 075.22 xác định: Tại má lốp ngoài bánh xe ngoài trục sau bên trái xe ô tô để lại vết cọ sát sạch bụi đất, kích thƣớc (0,17cm x 0,06)m. Khám nghiệm tử thi Vũ Hoàng C xác định: Tử thi bên ngoài mặc áo nilon màu xanh, rách nát dính nhiều máu và đất bẩn. Phía trƣớc mặc áo khoác màu xanh, liền mũ kéo khóa dính nhiều máu và đất bẩn trên diện rộng tập trung nhiều ở phía trƣớc và phía trên, có những đám in hằn chất bẩn không rõ hình ở phần trên của thân trƣớc. Quần bò màu xanh rải rác dính nhiều đất bẩn, dọc đũng quần phía trƣớc bên trái rách sơ vải theo chiều dọc kích thƣớc (4 x 15)cm; mắt trái nhắm, nhãn cầu còn, mắt phải nhãn cầu bật ra khỏi ổ mắt. Vùng trán, mặt và máu bên trái nằm trên đƣờng giữa, sát chân tóc trán có vết rách da theo chiều ngang bờ mép không gọn, để lộ xƣơng kích thƣớc (19 x 20)cm; Trên đám này tại vị trí trán bên trái nằm trên đƣờng giữa, sát chân tóc trán có vết rách da theo chiều nằm ngang bờ mép không gọn để lộ xƣơng kích thƣớc (11 x 6)cm. Mổ kiểm tra vị trí này thấy xƣơng hộp sọ vùng trán đỉnh hai bên tƣơng ứng phía dƣới bị vỡ làm nhiều mảnh nhỏ trông thấy tổ chức não, kích thƣớc (20 x 16)cm. Vỡ xƣơng sống mũi, xƣơng gò má hai bên, xƣơng hàm trên, xƣơng hàm dƣới kèm mặt biến dạng bẹp từ trƣớc ra sau, từ trái qua phải. Vùng ngực, bụng và phía trƣớc bẹn trái nằm trên đƣờng giữa đi từ chân cổ xuống rải rác có những đám bầm tím theo chiều dọc kích thƣớc (56 x 16)cm. Kiểm tra vị trí này thấy gãy cung trƣớc xƣơng sƣờn bên trái từ số 5 đến số 10 vỡ, vỡ xƣơng cánh chậu trái. Dọc toàn bộ vùng lƣng đi từ chân cổ xuống nằm trên đƣờng giữa có đám sây sát bầm tím theo chiều dọc trên diện kích thƣớc (50 x 25)cm. Trên đám này, nằm trên đƣờng giữa cách mỏm vai trái 22cm có hai đƣờng in hằn rích rắc song song với nhau theo chiều dọc có chiều từ dƣới lên trên, từ phải qua trái, khoảng cách giữa hai đƣờng là 5cm, các cạnh rích rắc nhau dài 4cm. Mặt trƣớc cẳng tay phải, mặt sau cẳng tay trái có đám sây sát da tụ máu. Ngày 09/5/2017 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hƣng Yên kết luận: nguyên nhân dẫn đến chị Vũ Hoàng C bị chết là do: “Đa chấn thƣơng, vỡ xƣơng hộp sọ. Thể loại chết không tự nhiên”. Tại bản kết luận giám định số 2682/C54(P3) ngày 09/6/2017 của Viện khoa học hình sự - Bộ Công an kết luận: Dấu vết biến dạng kim loại, trƣợt mất chất bẩn (dạng đất và dầu mỡ) ở mặt trƣớc phía ngoài và mặt ngoài thanh kim loại đứng phía sau bên dƣới khung kim loại đỡ máy phát điện bên phải xe sơ mi rơ moóc biển số 34R – 005.10 có chiều từ trƣớc về sau, phù hợp với dấu vết hằn, biến dạng kim loại, trƣợt xƣớc bám dính chất bẩn (dạng đất và dầu mỡ) ở mặt dƣới phía sau đuôi ống xả bên phải xe mô tô biển số 89D1 – 072.91 (khi xe mô tô này đổ nằm nghiêng bên trái trên mặt đƣờng). Dấu vết va chạm ở xe mô tô tại vị trí này có chiều từ dƣới lên trên, từ trƣớc về sau; mảnh nhựa màu đen kích thƣớc 2,3cm x 2,2cm x 1,2cm x 0,7cm khi (khi hay ghi) thu ở mặt trên thanh kim loại phía dƣới cùng của giá đỡ máy phát điện bên phải xe ô tô đầu kéo biển số 34M - 0772 kéo sơ mi rơ moóc biển số 34R – 005.10 gửi đến giám định là mảnh nhựa vỡ ra từ phía sau ốp nhựa bảo vệ ống xả bên phải xe mô tô biển số 89D1 – 072.91.

Quá trình điều tra xác định: chiếc xe ô tô biển số 89C -075.22 là của anh L đỗ tại hành lang đảm bảo đúng quy định của Luật giao thông đƣờng bộ, không liên quan đến vụ tai nạn nói trên. Nên ngày 26/5/2017 cơ quan điều tra đã trả lại cho anh L chiếc xe trên. Chiếc xe mô tô biển số 89D1-072.91 là của bố anh Đ tên là Nguyễn Văn Q. Ngày 11/8/2017 cơ quan điều tra cũng đã trả lại chiếc xe trên cho ông Q để sử dụng, anh L và Ông Q không có đề nghị gì.

Ngày 14/08/2017 cơ quan điều tra cũng đã trả lại chiếc xe ô tô đầu kéo biển số 34M - 0772 sơ mi rơ moóc biển số 34R – 005.10 cùng toàn bộ giấy tờ liên quan cho Công ty trách nhiệm hữu hạn thƣơng mại và dịch vụ Phƣơng Bắc do ông Lê Quý QQ là Giám đốc Công ty trực tiếp nhận.

Anh Đ bị thƣơng tích nhẹ nên không yêu cầu bồi thƣờng. Gia đình bị can Hoàng Văn P đã tự nguyện bồi tƢ cho gia đình chị C số tiền 150.000.000đồng. Đại diện gia đình của ngƣời bị hại là ông Vũ Trung Kiên (bố của chị C) đã nhận số tiền trên và có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho P. Quá trình điều tra, Hoàng Văn P đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình nhƣ nêu ở trên. Bản cáo trạng số: 79/QĐ- VKS- HS ngày 16/10/2017 Viện kiểm sát¸t nhân dân huyện K đã truy tố ra trƣớc Tòa án để xét xử Hoàng Văn P về tội:

“ Vi phạm quy định về điều khiển phƣơng tiện giao thông đƣờng bộ” theo điểm c khoản 2 điều 202 của Bộ Luật hình sự . Tại phiên tòa hôm nay:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện K luận tội: Giữ nguyên quan điểm truy tố theo nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 2 và khoản 5 điều 202;điều 36; điểm b, p khoản 1 và khoản 2 điều 46; khoản 1,khoản 2 và khoản 3 điêu 60 của Bộ luật hình sự; Khoản 1 điều 76; khoản 1 và khoản 2 điều 99; điều 227 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Khoản 1 điều 69 của Luật thi hành án hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/ UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban tƢ vụ Quốc Hội về án lệ phí Tòa án. Để xử phạt: Hoàng Văn P 03 năm tù nhƣng cho hƣởng án treo, thời gian thử thách là 05 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm; Trả tự do cho Hoàng Văn P ngay tại phiên tòa sơ thẩm 30/10/2017. Về hình phạt bổ sung: Cấm hành nghề lái xe đối với Hoàng Văn P thời hạn từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng kể từ ngày bản án này có hiệu lực pháp luật;Lƣu giữ của Hoàng Văn P một bằng lái xe ô tô trong thời hạn cấm hành nghề lái xe ô tô; Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra; Buộc Hoàng Văn P phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo Hoàng Văn P đã thành khẩn khai báo nhận tội, thái độ ăn năm, hối cải và xin đƣợc xử mức án thấp nhất, đƣợc cải tạo tại địa phƣơng. Ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Hoàng Thị Ƣ xin đề nghị cho bị cáo đƣợc hƣởng án treo, còn về trách nhiệm dân sự thì không có đề nghị gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã đƣợc thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy nhƣ sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện K, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện K, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Bị cáo xuất trình tài liệu, chứng cứ phù hợp với quy định của pháp luật; Bị cáo và những ngƣời đại diện gia đình ngƣời bị hại, những ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ngƣời nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai báo của bị cáo Hoàng Văn P, ngƣời đại diện cho gia đình ngƣời bị hại, những ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, những ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, những ngƣời làm chứng và những chứng cứ tài liệu Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 06/5/2017, tại khu vực đƣờng 39 A thuộc thôn Ô xã VH huyện K tỉnh Hƣng Yên, Hoàng Văn P điều khiển xe ô tô đầu kéo biển số 34M-0772 kéo theo sơ mi rơ moóc biển số 34R-005.10 đi theo hƣớng Ngã tƣ Phố Nối – thành phố Hƣng Yên. Do tránh xe ngƣợc chiều nên P đã điều khiển xe ô tô đầu kéo lấn vào làn đƣờng dành cho cho xe thô sơ và ngƣời đi bộ, thành xe ô tô bên phải đã va vào xe mô tô biển số 89 D1- 07291 do anh Nguyễn Quốc Đ điều khiển đi ở phía trƣớc cùng chiều đang đi ở làn đƣờng dành cho xe thô sơ và ngƣời đi bộ, sau xe chở chị Vũ Hoàng C, làm xe mô tô bị đổ, anh Đ bị ngã và bị thƣơng nhẹ, chị C bị ngã và bị bánh sau bên phải xe ô tô đầu kéo chèn ép qua đầu và ngƣời làm chị C bị tử vong. Nhìn qua gƣơng chiếu hậu, P biết có tai nạn xảy ra nhƣng vẫn tiếp tục điều khiển xe đi khỏi hiện trƣờng thì bị mọi ngƣời đuổi theo yêu cầu dừng lại. Hành vi của Hoàng Văn P đã vi phạm khoản 17, 18 điều 8, khoản 1 điều 9 và khoản 1 điều 13 của Luật giao thông đƣờng bộ,gây tai nạn giao thong làm chị Vũ Hoàng C bị chết, nhƣng P vẫn điều khiển xe bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm. Hoàng Văn P là ngƣời có năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ đƣợc hành vi và trách nhiệm của mình, nên Hoàng Văn P đã phạm vào tội “ Vi phạm quy định về điều khiển phƣơng tiện giao thông đƣờng bộ” theo tội danh và hình phạt quy định tại điểm c khoản 2 điều 202 của Bộ luật hình sự.

Điều 202 ghi: “1/-Ngƣời nào điều khiển phƣơng tiện giao thong đƣờng bộ mà vi phạm các quy định về an toàn giao thông đƣờng bộ gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khỏe, tài sản ngƣời khác thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mƣơi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm. 2/- Phạm tội thuộc một trong các trƣờng hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mƣời năm: ……………………………… c/- Gây tai nạn rồi bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không giúp ngƣời bị nạn. ………………………………. ”.

Nhƣ vậy Viện kiểm sát nhân dân huyện K đã truy tố đối với Hoàng Văn P theo tội danh và điều luật ghi trong nội dung bản cáo trạng đã nêu là hoàn toàn có căn cứ, chính xác đúng ngƣời đúng tội. Hành vi của Hoàng Văn P là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến sức khỏe của ngƣời khác, tƣớc đoạt tính mạng của con ngƣời, nên cần cần phải xử phạt thật nghiêm theo pháp luật hình sự, buộc Hoàng Văn P phải chịu hình phạt tù tƣơng xứng với tính chất mức độ phạm tội để cải tạo giáo dục bị cáo và có tính đấu tranh phòng ngừa tội phạm. Tuy nhiên khi lƣợng hình cần xem xét cho bị cáo đƣợc hƣởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nhƣ sau: Hoàng Văn P đã khẩn báo nhận tội; nhận thức rõ đƣợc hành vi phạm pháp và trách nhiệm của mình nên đã cùng gia đình mình bồi tƢ thiệt hại dân sự; đƣợc những ngƣời đại diện gia đình ngƣời bị hại xin miễm truy cứu trách nhiệm hình sự, chính quyền địa phƣơng xác nhận đơn xin giảm nhẹ hình phạt . Nhƣ vậy bi cáo Hoàng Văn P đƣợc hƣởng hai tình tiết giảm nhẹ theo điểm b,p khoản 1 điều 46 và hai tình tiết giảm nhẹ khác theo khoản 2 điều 46 của Bộ luật hình sự. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự thì không có. Mặt khác bị cáo Hoàng Văn P có nhân thân tốt (chƣa có tiền án tiền sự), nên xét thấy không cần thiết phải cho cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, mà xử phạt tù nhƣng cho hƣởng án treo cũng đảm bảo việc cải tạo giáo dục bị cáo. Tạo điều kiện cho bị cáo lao động tại địa phƣơng để giúp đỡ gia đình mình, vừa thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật, vùa thể hiện sự nhân đạo của Nhà nƣớc. Trả tự do cho Hoàng Văn P ngay tại phiên tòa sơ thẩm 30/10/2017, giao Hoàng Văn P cho Uỷ ban nhân dân xã nơi P cƣ trú để giám sát giáo dục trong thời gian thử thách và chấp hành án. Về hình phạt bổ sung: Cần cấm bị cáo Hoàng Văn P hành nghề lái xe ô tô trong thời gian một năm kể từ ngày bản án này có hiệu lực pháp luật. Để đảm bảo cho việc thi hành án sau này, cần lƣu giữ lại Hồ sơ vụ án một giấy phép lái xe ô tô hạng FC ( Số 300086303766 mang tên Hoàng Văn P do Sở giao thông thành phố Hải Phòng cấp ngày 06/05/2015) cho đến khi Hoàng Văn P chấp hành xong hình phạt bổ sung thì trả lại cho bị cáo Hoàng Văn P. Về trách nhiệm dân sự: Gia đình bị cáo và những ngƣời đại diện gia đình ngƣời bị hại đã tự thoả thuận bồi tƢ với nhau. Nay những ngƣời đại diện gia đình ngƣời bị hại và những ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án đều không yêu cầu đòi bồi tƢ gì. Nên phần trách nhiệm dân sự không đặt ra. Về án phí: Cần buộc bị cáo Hoàng Văn P phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, những ngƣời đại diện gia đình ngƣời bị hại vµ ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án đƣợc quyền kháng cáo bản án theo luật định.

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Hoàng Văn P phạm tội: " Vi phạm quy định về điều khiển phƣơng tiện giao thông đƣờng bộ ". Áp dụng điểm c khoản 2 điều 202; điểm b, p khoản 1 và khoản 2 điều 46; khoản 1và khoản 2 điều 60 của Bộ luật hình sự; ; Khoản 4 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Xử phạt: Hoàng Văn P 03 (Ba) năm tù nhƣng cho hƣởng án treo. Thời gian thử thách là 05 (Năm) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 30/10/2017. Trả tự do cho Hoàng Văn P ngay tại phiên tòa sơ thẩm 30/10/2017. Giao Hoàng Văn P cho Uỷ ban nhân dân xã Thuyện Th tỉnh Hải Dƣơng để giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trƣờng hợp Hoàng Văn P thay đổi nơi cƣ trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 điều 69 của Luật thi hành án hình sự năm 2010.

2. Hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 5 điều 202; điều 36; khoản 3 điều 60 của Bộ luật hình sự; khoản 1 điều 76 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Xử: Cấm Hoàng Văn P hành nghề lái xe ô tô trong thời gian 01 (Một) năm kể từ ngày bản án này có hiệu lực pháp luật. Lƣu giữ tại Hồ sơ vụ án hình sự này một giấy phép lái xe ô tô hạng FC (Sè 300086303766 mang tªn Hoàng Văn P do Sở giao thông vận tải thành phố Hải Phòng cấp ngày 06/05/2015) cho đến khi Hoàng Văn P chấp hành xong hình phạt bổ sung thì trả lại cho Hoàng Văn P.

3. Trách nhiệm dân sự: Không đặt ra.

4. Án phí: Áp dụng khoản 1 và khoản 2 điều 99 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/ UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban tƢ vụ Quốc Hội về án lệ phí Tòa án. Xử: Buộc Hoàng Văn P phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Áp dụng điều 231 và điều 234 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Xử: Bị cáo Hoàng Văn P và chị Hoàng Thị Ƣ (có mặt tại phiên tòa) đƣợc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 30/10/2017. Những ngƣời đại diện gia đình ngƣời bị hại và những ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (vắng mặt tại phiên tòa) đƣợc qyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc hoặc ngày niêm yết bản thông báo kết quả xét xử tại địa phƣơng nơi cƣ trú.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ