vanban.org

Bản án 704/2017/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: 1/ Cho chị Phạm Thị Tuyết H được ly hôn với anh Trần Thanh B .

2/ Về con: công nhận sự thỏa thuận của chị H và anh B về con như sau: Chị H được tiếp tục nuôi con chung tên Phạm Ngân A , sinh ngày 26/6/2017 , anh B khỏi phải cấp dưỡng nuôi con vì chị H chưa yêu cầu. Anh B được quyền đến thăm và chăm sóc con chung. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Xử: 1/ Cho chị Phạm Thị Tuyết H được ly hôn với anh Trần Thanh B .
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xử vắng mặt; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU THÀNH
TỈNH TIỀN GIANG
Bản án số: 704/2017/HNGĐ-ST
Ngày: 05/12/2017
V/v tranh chấp “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH – TIỀN GIANG.

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- chủ tọa phiên tòa bà TRƢƠNG THỊ TUYẾT LINH

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông: LÊ VĂN MINH

2/ Ông: HUỲNH VĂN PHÓ

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa ông NGUYỄN HOÀNG THI – Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Châu Thành tỉnh Tiền Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa ông: Đỗ Huỳnh Thanh Tân - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 12 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 539/2017/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 10 năm 2017 về tranh chấp “Ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 168/2017/QĐST-DS ngày 08 tháng 11 năm 2017, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Phạm Thị Tuyết H ; Sinh năm: 1993 Địa chỉ: Số 57, LHN, khu phố B Q 3, p4, thành phố TA, tỉnh Loang An.

Bị đơn: Trần Thanh B ; Sinh năm: 1993 Địa chỉ: Ấp LTA, xã LH, huyện CT , tỉnh Tiền Giang.

(Chị H có mặt, anh B vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn xin ly hôn ngày 22/9/2017 chị Phạm Thị Tuyết H trình bày:

Chị và anh Trần Thanh B cưới nhau vào năm 2016 có đăng ký kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh B không lo làm ăn thường xuyên kiếm chuyện gây gổ, cải vã. Từ tháng 11/2016 chị về nhà mẹ ruột ở và vợ chồng đã sống ly thân từ đó cho đến nay.

Nay về tình cảm chị yêu cầu được ly hôn với anh B .

Về con: Chị và anh B có một con chung tên Phạm Ngân A , sinh ngày 26/6/2017 hiện con đang sống với chị. Nay chị yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản: Không có.

Về nợ chung: không có.

Trong bản khai ngày 09/10/2017 anh Trần Thanh B trình bày:

Anh và chị H cưới nhau vào năm 2016 có đăng ký kết hôn. Trong cuộc sống, vợ chồng có cự cải nhau nhưng không thường xuyên, đến tháng 10 năm 2016 chị H bỏ về nhà mẹ ruột sống và vợ chồng đã sống ly thân từ đó cho đến nay. Nay chị H yêu cầu ly hôn tùy Tòa án quyết định anh không rước vợ về.

Về con: Anh và chị H có một con chung Phạm Ngân A , sinh ngày 26/6/2017. Nay anh đồng ý để chị H nuôi con anh không tự nguyện cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản và nợ chung: không có.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:

Về việc tuân theo pháp luật: Từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử Thẩm phán, Hội đồng xét xử và thư ký đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật.

Các đương sự tham gia tố tụng cũng đã tuân thủ đúng các quy định của luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Phạm Thị Tuyết H . Về con chung giao cho chị H nuôi con chung tên Phạm Ngân A , sinh ngày 26/6/2017, anh B khỏi phải cấp dưỡng nuôi con vì chị H chưa yêu cầu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Qua nghiên cứu các chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định quan hệ hôn nhân giữa chị Phạm Thị Tuyết H và anh Trần Thanh B được xác lập vào tháng 8 năm 2016 đã được cấp giấy chứng nhận kết hôn. Anh, chị chung sống hạnh phúc đến tháng 10 năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn và anh chị đã sống ly thân nhau từ đó cho đến nay. Nay chị H yêu cầu ly hôn, anh B không đồng ý nhưng không có nguyện vọng đoàn tụ chứng tỏ tình cảm giữa chị H và anh B không còn, hạnh phúc gia đình đã thật sự tan vỡ, khả năng đoàn tụ là không có, nhằm để giải phóng tình cảm cho nhau Hội đồng xét xử cho chị H được ly hôn với anh B là không gì trái với quy định của pháp luật.

Về con: Chị H và anh B có một con chung tên Phạm Ngân A , sinh ngày 26/6/2017, nay chị H và anh B thống nhất chị H tiếp tục nuôi cháu An anh B không phải cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy đây là sự tự thỏa thuận của các đương sự và sự thỏa thuận này không gì trái với quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử công nhận.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị H và anh B thống nhất không có nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Đối với anh Trần Thanh B có đơn xin vắng mặt, Hội đồng xét xử căn cứ vào điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xử vắng mặt đối với anh B .

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình.

Căn cứ điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

Xử: 1/ Cho chị Phạm Thị Tuyết H được ly hôn với anh Trần Thanh B .

2/ Về con: công nhận sự thỏa thuận của chị H và anh B về con như sau: Chị H được tiếp tục nuôi con chung tên Phạm Ngân A , sinh ngày 26/6/2017 , anh B khỏi phải cấp dưỡng nuôi con vì chị H chưa yêu cầu.

Anh B được quyền đến thăm và chăm sóc con chung.

3/ Về án phí: Chị H phải chịu 300.000đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, chị H đã nộp 300.000đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 26335 ngày 26/9/2017 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành xem như nộp xong án phí HNGĐ sơ thẩm.

Chị H có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tròn kể từ ngày tuyên án. Anh B có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tròn kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ