vanban.org

Bản án 700/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của bà Trần Thị Ánh H:

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Ánh H được ly hôn với ông Võ Văn N Chứng nhận kết hôn số 09, quyển số 01 do Ủy ban nhân dân xã A, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 28/01/1989 không còn giá trị pháp lý Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của bà Trần Thị Ánh H:
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Luật Thi hành án dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÌNH CHÁNH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 700/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 21/08/2020
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Văn Lưới. Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Võ Hoàng Thu 2. Bà Nguyễn Thị Thúy Oanh

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Kim Ngân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Hậu - Kiểm sát viên Ngày 21 tháng 08 năm 2020 tại Phòng xử án của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 83/2020/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 02 năm 2020 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 183/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 27/07/2020, giữa các đương sự: 1. Nguyên đơn: Bà Trần Thị Ánh H, sinh năm: 1964, (có mặt) Địa chỉ: B16/21 ấp Y, xã A, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh. 2. Bị đơn: Ông Võ Văn N, sinh năm: 1962, (có mặt) Địa chỉ: D15/24 ấp K, xã A, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 17/12/2019 và trong quá trình xét xử nguyên đơn bà Trần Thị Ánh H trình bày:

Bà và ông Võ Văn N tự nguyện tiến tới hôn nhân vào năm 1988, nhờ mai mối đến với nhau, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2012 thì giữa vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp, mâu thuẫn về chuyện tiền bạc, cách nuôi dạy con, đến tháng 05/2012 mâu thuẫn trầm trọng nên không thể sống chung được, bà bỏ ra ngoài sinh sống một mình. Khi cưới vợ cho con thì ông N không mời bà dự lễ cưới, vợ chồng ly thân được 08 năm. Do tình cảm đối với nhau không còn, mâu thuẫn không hàn gắn được nên bà yêu cầu được ly hôn với ông N.

Về con chung: có 02 con chung tên Võ Trường X, nam, sinh ngày 05/4/1990 và Võ Trường D, nam, sinh ngày 29/7/1994 (tất cả đã trưởng thành).

Về tài sản chung: tự thỏa thuận, nợ chung: không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai ngày 30/3/2020 và trong quá trình xét xử, bị đơn ông Võ Văn N trình bày:

Ông xác nhận thời gian chung sống, việc đăng ký kết hôn, con chung, tài sản chung và nợ chung như lời trình bày của bà H, vợ chồng ly thân từ năm 2012 đến nay. Vợ chồng mâu thuẫn về chuyện kinh tế gia đình và chuyện tiền bạc, mâu thuẫn trong cách dạy con. Ông không đồng ý ly hôn theo yêu cầu của bà H vì ông còn thương bà H và muốn vợ chồng đoàn tụ. Nếu Tòa án giải quyết ly hôn thì ông không yêu cầu gì về con chung vì các con ông đã trưởng thành. Về tài sản chung: tự thỏa thuận, nợ chung: không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định của pháp luật và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

[1.1] Bà Trần Thị Ánh H yêu cầu ly hôn với ông Võ Văn N. Đây là tranh chấp về ly hôn nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

Bị đơn cư trú tại địa bàn huyện Bình Chánh, nên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh.

Về áp dụng pháp luật: Bà Trần Thị Ánh H nộp đơn yêu cầu ly hôn ngày 17/12/2019 nên áp dụng Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 để giải quyết.

Về yêu cầu của các đương sự, Hội đồng xét xử xét thấy như sau:

Bà Trần Thị Ánh H và ông Võ Văn N tự nguyện tiến tới hôn nhân vào năm 1988, đôi bên có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện B theo giấy chứng nhận kết hôn số 09, quyển số 01 ngày 28/01/1989. Hai bên chung sống có 02 con chung tên Võ Trường X, nam, sinh ngày 05/4/1990 và Võ Trường D, nam, sinh ngày 29/7/1994 (tất cả đã trưởng thành).

Xét lời trình bày của bà H, ông N nhận thấy hai bên thừa nhận đời sống chung vợ chồng là có mâu thuẫn, mâu thuẫn về chuyện kinh tế gia đình, cách nuôi dạy con. Vợ chồng thường hay gây gỗ với nhau. Từ năm 2012 đến nay vợ chồng đã ly thân và không ai quan tâm đến ai. Việc này phù hợp với kết quả xác minh của Hội phụ nữ xã A, huyện B là hai vợ chồng đã ly thân từ năm 2012 và có mâu thuẫn gia đình.

Sự việc mâu thuẫn xảy ra đã lâu nhưng hai bên không hòa giải và hàn gắn tình cảm vợ chồng được. Hai bên cũng thừa nhận không thể nào nói chuyện thẳng thắng với nhau để tìm giải pháp hiệu quả cho việc duy trì quan hệ hôn nhân tốt đẹp, vì sự khác biệt về suy nghĩ và quan điểm sống. Tòa án đã tiến hành hòa giải đoàn tụ và hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng tại các buổi hòa giải hai bên có thái độ căng thẳng với nhau nên việc hòa giải đoàn tụ là không thành. Do đó, tình trạng hôn nhân giữa bà H và ông N là trầm trọng.

Vợ chồng thường gây gỗ với nhau và không có giải pháp hiệu quả cho việc hàn gắn tình cảm, bà H ông N đã ly thân nhiều năm, tình yêu không còn. Do đó, đời sống chung là không thể kéo dài.

Mục đích của hôn nhân là xây dựng gia đình hòa thuận, hạnh phúc, vợ chồng thương yêu và quý trọng nhau, cùng nhau chăm lo cho con cái. Tuy nhiên, quan hệ hôn nhân giữa bà H và ông N không còn hòa thuận và quý trọng lẫn nhau, nên mục đích hôn nhân là không đạt được.

Ông N yêu cầu đoàn tụ nhưng không đưa ra biện pháp để vợ chồng hàn gắn tình cảm và khi được Tòa án hòa giải thì giữa hai vợ chồng vẫn không có tiếng nói chung, mạnh ai nấy sống, không quan tâm chăm sóc nhau, cho thấy ông N cũng không quan tâm đến tình trạng hôn nhân, không thiết tha trong việc hàn gắn tình cảm vợ chồng.

Xét thấy tình trạng hôn nhân giữa bà H và ông N là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, yêu cầu ly hôn của bà H là có cơ sở để chấp nhận theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về con chung: có 02 con chung tên Võ Trường X, nam, sinh ngày 05/4/1990 và Võ Trường D, nam, sinh ngày 29/7/1994 (tất cả đã trưởng thành).

Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận.

Về nợ chung: Bà H, ông N khai nhận không có.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Từ những lý lẽ đã viện dẫn, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Trần Thị Ánh H.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Trần Thị Ánh H chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm ly hôn theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015;

Áp dụng Điều 51, 56, 57 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Áp dụng Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014;

Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu của bà Trần Thị Ánh H:

1.1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Ánh H được ly hôn với ông Võ Văn N

Chứng nhận kết hôn số 09, quyển số 01 do Ủy ban nhân dân xã A, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 28/01/1989 không còn giá trị pháp lý

1.2. Về con chung: Có 02 con chung tên Võ Trường X, nam, sinh ngày 05/4/1990 và Võ Trường D, nam, sinh ngày 29/7/1994 (tất cả đã trưởng thành).

1.3. Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận. Do đó, Tòa án không đặt ra để giải quyết.

1.4. Về nợ chung: Bà H, ông Nkhai nhận không có. Do đó, Tòa án không đặt ra để giải quyết.

2. Về án phí: Bà Trần Thị Ánh H chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm ly hôn nhưng được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng mà bà H đã nộp theo biên lai thu tiền số AA/2019/0078514 ngày 20/01/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh. Bà Trần Thị Ánh H đã nộp đủ án phí.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.

3. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ