vanban.org

Bản án 70 — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử cho chị Bùi Thị H và anh Phạm Văn Đ được ly hôn.

Về con chung: Giao chị Bùi Thị H trực tiếp nuôi dưỡng cháu Phạm Hà T, sinh ngày 25/3/2019 hiện đang ở cùng chị H. Anh Đ không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị H. Anh Đ có quyền thăm nuôi con không ai được ngăn cản. Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức: Không yêu cầu, không xem xé… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp hôn nhân gia đình"
  • Tòa quyết gì? Xử cho chị Bùi Thị H và anh Phạm Văn Đ được ly hôn.
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LẬP THẠCH
TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bán án: 70/2022/HNGĐ-ST
Ngày 30 tháng 12 năm 2022
V/v:“Ly hôn, tranh chấp nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẬP THẠCH, TỈNH VĨNH PHÚC

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Huệ.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Trung Thành

Ông Nguyễn Tiến Sửu

Thư ký toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Khương Thị Phượng

Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Toàn - kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 138/2022/TLST- HNGĐ, ngày 04 tháng 10 năm 2022 về việc ly hôn, tranh chấp nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:138/2022/QĐXXST-HNGĐ, ngày 28 tháng 11 năm 2022 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Bùi Thị H, sinh năm 1985 (có mặt)

Nơi cư trú: thôn H, xã K,huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc

- Bị đơn: Anh Phạm Văn Đ, sinh năm 1974 (vắng mặt)

Nơi cư trú: thôn L, xã L, huyện L, tỉnh Vĩnh phúc

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 29 tháng 9 năm 2022 quá trình giải quyết và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Bùi Thị H trình bày:

Chị kết hôn với anh Phạm Văn Đ, ngày 15/5/2018 cưới có được tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại UBND xã L, tổ chức xong chị về làm ăn chung sống cùng gia đình anh Đ ngay. Quá trình vợ chồng chung sống được thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn do tính tình không hợp dẫn đến thường xuyên cãi nhau. Vợ chồng sống ly thân từ cuối năm 2020 cho đến nay. Hai bên gia đình không dàn xếp gì để vợ chồng về đoàn tụ. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn chị xin được ly hôn với anh Đ.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung Phạm Hà T, sinh ngày 25/3/2019 hiện đang ở cùng chị. Ly hôn chị xin nuôi con và không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị. Hiện chị đi làm công nhân thu nhập bình quân 6.000.000đ- 7.000.000đ/tháng .

Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức: Không có không đề nghị Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Phạm Văn Đ vắng mặt tại phiên tòa, quá trình giải quyết anh trình bày do điều kiện sức khỏe anh không đến tòa án làm việc được, anh đề nghị tòa án giải quyết, xét xử vắng mặt anh, anh trình bày: Anh kết hôn với chị Bùi Thị H, ngày 15/5/2018 cưới có được tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại UBND xã L, tổ chức xong chị H về làm ăn chung sống cùng gia đình anh được khoảng 03 tháng thì anh bị tai nạn chị H bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở, thỉnh thoảng chị đến thăm anh. Nay chị H xin ly hôn, anh xác định tình cảm vợ chồng không còn anh đồng ý ly hôn.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung Phạm Hà T, sinh ngày 25/3/2019 hiện đang ở cùng chị H. Ly hôn anh để chị H nuôi con và không cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị.

Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức: Không có không đề nghị tòa án giải quyết.

Qua xác minh tại UBND xã L: Anh Phạm Văn Đ là công dân có hộ khẩu thường trú và thường xuyên sinh sống tại thôn L, xã L. Năm 2018 anh Đ kết hôn với chị Bùi Thị H. Sau khi kết hôn chị H về làm ăn chung sống cùng gia đình anh Đ ngay. Quá trình anh Đ, chị H chung sống có xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do đâu thì địa phương không nắm được. Từ năm 2020 đến nay chị H không chung sống cùng gia đình anh Đ nữa. Về con chung vợ chồng có 01 con chung Phạm Hà T, sinh ngày 25/3/2019 hiện đang ở cùng chị H. Về tài sản, công nợ, công sức địa phương không nắm được. Nay chị H xin ly hôn anh Đ địa phương đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật để đảm bảo quyền lợi cho các bên.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa: Tuân theo đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí toà án.

1. Xử cho chị Bùi Thị H và anh Phạm Văn Đ được ly hôn.

2.Về con chung: Giao chị Bùi Thị H trực tiếp nuôi dưỡng cháu Phạm Hà T, sinh ngày 25/3/2019 hiện đang ở cùng chị H. Anh Đ không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị H.

3.Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức: Không yêu cầu, không xem xét giải quyết.

4. Về án phí: Chị Bùi Thị H phải chịu theo qui định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về thủ tục tố tụng: Anh Phạm Văn Đ được Tòa án triệu tập hợp lệ, đều vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

. Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa chị Bùi Thị H và anh Phạm Văn Đ là hôn nhân hợp pháp có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc. Quá trình vợ chồng chung sống mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, chị H bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở từ cuối năm 2020 cho đến nay. Nay chị H xin ly hôn anh Đ đồng ý. Xét tình trạng hôn nhân giữa chị H và anh Đ đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài, việc chị H xin ly hôn anh Đ là có căn cứ phù hợp với Luật hôn nhân gia đình nên chấp nhận.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung Phạm Hà T, sinh ngày 25/3/2019 hiện đang ở cùng chị H. Ly hôn chị H xin nuôi con anh Đ đồng ý. Do vậy để đảm bảo quyền lợi cho con chưa thành niên nên giao cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng cháu T. Việc chị H không yêu cầu anh Đ phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị là tự nguyện phù hợp với các Điều 81, 82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình nên được chấp nhận.

Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ và công sức: Chị H, anh Đ không đề nghị nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Chị H phải chịu theo quy định của pháp luật.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát đề nghị có căn cứ, phù hợp với phần nhận định, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí toà án.

1. Xử cho chị Bùi Thị H và anh Phạm Văn Đ được ly hôn.

2.Về con chung: Giao chị Bùi Thị H trực tiếp nuôi dưỡng cháu Phạm Hà T, sinh ngày 25/3/2019 hiện đang ở cùng chị H. Anh Đ không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị H. Anh Đ có quyền thăm nuôi con không ai được ngăn cản.

3.Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức: Không yêu cầu, không xem xét giải quyết.

4. Về án phí: Chị Bùi Thị H phải chịu 300.000đ án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được trừ số tiền 300.000đ chị đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền số 0006393 ngày 04/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lập Thạch. Chị H nộp đủ án phí.

Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết tại Uỷ ban nhân dân nơi cư trú của người vắng mặt.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ