- Tranh chấp gì? "Nguyễn Văn Tiến - Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? QUYẾT ĐỊNH: [1] Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm đ khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật hình sự Tuyên bố; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 321 Bộ luật hình sự Tuyên bố
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH P | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án: 70/2023/HS-PT Ngày 08 tháng 9 năm 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH P
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Vũ
Các thẩm phán:
Ông Hoàng T D
Ông Nguyễn Hà Giang
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Hồng Đăng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh P.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh P tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Kim Dung - Kiểm sát viên. Ngày 08 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh P đưa ra xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 86/2023/TLPT-HS ngày 26 tháng 7 năm 2023 do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T đối với Bản án hình sơ thẩm số 25/2023/HSST ngày 20 tháng 6 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh P. Bị cáo kháng cáo:
Nguyễn Văn T; - Tên gọi khác: Không - Giới tính: Nam; Sinh ngày: 23/7/1999; Nơi ĐKHKTT: Khu 1, xã S, huyện T, tỉnh P; Chỗ ở hiện nay: Khu 1, xã S, huyện T, tỉnh P; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 8/12; Bố đẻ: Nguyễn Văn N, sinh năm 1979, Mẹ đẻ: Nguyễn Thị Ch, sinh năm 1980; Cùng trú tại khu 1, xã S, huyện T, tỉnh P; Vợ, con: Chưa có; Tiền án: Không;
Tiền sự:
+ Ngày 05/02/2022, bị Chủ tịch UBND xã S xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000đ về hành vi đánh bạc (Chưa chấp hành xong);
Bị cáo Nguyễn Văn T bị tạm giữ từ ngày 30/01/2023 đến ngày 07/02/2023, được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại tại xã S, huyện T, tỉnh P (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Tối ngày 30/01/2023, Nguyễn Văn Đ, Nguyễn T C, Nguyễn Văn D đi chơi qua đoạn đường bê tông dân sinh phía trước căn nhà ở bỏ hoang của gia đình bà Nguyễn Thị B thuộc địa phận khu 1, xã S, huyện T, tỉnh P. Tại đây, Đ thấy có 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân để sẵn ở trên hiên nhà bà B nên cầm lên rủ C và D đánh bạc bằng hình thức chơi liêng được, thua bằng tiền thì C và D đồng ý rồi cùng Đ ngồi đánh bạc tại sân gạch phía trước căn nhà bỏ hoang của gia đình bà B. Sau đó, khoảng thời gian từ 22 giờ đến 23 giờ 30 phút cùng ngày thì có Nguyễn Văn T, Vũ Văn K, Nguyễn Văn Xvà Nguyễn Văn T lần lượt đến và tham gia đánh bạc cùng với Nguyễn Văn Đ, Nguyễn T C và Nguyễn Văn D. Đến 23 giờ 50 phút cùng ngày, khi Đ, C, D, T, K, Xuyên, T đang cùng nhau đánh bạc thì bị Công an huyện T bắt quả tang cùng toàn bộ vật chứng. Lợi dụng sự lộn xộn trong quá trình bắt giữ, C, Đ và D vứt lại toàn bộ số tiền sử dụng để đánh bạc xuống nền sân gạch nơi các đối tượng ngồi đánh bạc rồi bỏ trốn thoát. Cách thức đánh bạc được thua bằng tiền với hình thức chơi liêng. Về số tiền sử dụng vào mục đích đánh bạc các đối tượng khai nhận: Khi tham gia đánh bạc Nguyễn Văn Đ có 1.100.000đ, Nguyễn Văn D có 1.000.000đ, Nguyễn T C có 740.000đ, Nguyễn Văn T (sinh năm 1999) có 1.800.000đ, Vũ Văn K có 1.200.000đ, Nguyễn Văn Xcó 200.000đ, Nguyễn Văn T (sinh năm 1984) có 200.000đ. Tất cả các đối tượng đều sử dụng toàn bộ số tiền trên vào mục đích đánh bạc. Quá trình đánh bạc các đối tượng đều để tiền đánh bạc tại vị trí ngồi đánh bạc trên nền hiên nhà bà B. Khi bị bắt quả tang thu giữ tại nơi các đối tượng ngồi đánh bạc số tiền 6.240.000đ. Do đó, Đ, D, C,T, K, Xvà T phải chịu trách nhiệm hình sự với tổng số tiền tham gia đánh bạc là 6.240.000đ. Tổ công tác lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang và thu giữ vật chứng gồm: 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân và số tiền Việt Nam 6.240.000đ. Quá trình điều tra xác định: toàn bộ số tiền này các bị cáo đều dùng vào mục đích đánh bạc nên cơ quan điều tra đã chuyển đến tài khoản tạm giữ của Chi cục Thi hành án dân sự huyện T để chờ xử lý theo quy định của pháp luật. Tại bản án hình sự sơ thẩm số25/2023/HSST ngày 20 tháng 6 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Pđãquyết định: Căn cứ vào Khoản 1, Điều 321; Điểm i, s, Khoản 1; Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Đánh bạc”. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T (sinh năm 1999) 07 (bảy) tháng tù,được khấu trừ 08 ngày tạm giữ từ ngày 30/01/2023 đến ngày 07/02/2023, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành hình phạt tù. Ngoài ra bản án còn tuyên về hình phạt đối với các bị cáo khác, tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo đúng quy định của pháp luật. Ngày 27/6/2023: Bị cáo Nguyễn Văn T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo. Quá trình chuẩn bị xét xử phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Văn T cung cấp thêm tài liệu chứng cứ mới: Bị cáo đã nộp 2.000.000 đồng ủng hộ Quỹ vì người nghèo (có xác nhận của Ủy ban Mặt trận tổ quốc xã S, huyện T, tỉnh P); bị cáo có ông ngoại là Nguyễn Văn Quy là thương binh, được tặng thưởng Huy hiệu chiến sỹ Trường Sơn. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo T thay đổi nội dung kháng cáo, xin được giảm nhẹ hình phạt, cải tạo ngoài xã hội. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh P trình bày quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử, áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật hình sự. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 25/2023/HSST ngày 20 tháng 6 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh P theo hướng xử phạt bị cáo từ 15 đến 18 tháng tháng cải tạo không giam giữ. Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Về thủ tục tố tụng: Kháng cáo của bị cáo trong hạn luật định, đơn kháng cáo hợp lệ nên được xem xét, giải quyết theo thủ tục phúc thẩm [2] Về nội dung vụ án: Tại cơ quan điều tra, phiên tòa sơ thẩm, phiên tòa phúc thẩm lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của các bị cáo khác, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có đủ căn cứ xác định: Hồi 23 giờ 50 phút ngày 30/01/2023, tại sân gạch phía trước căn nhà bỏ hoang của gia đình bà Nguyễn Thị B thuộc địa phận khu 1, xã S, huyện T, tỉnh P, Nguyễn Văn Đ, Nguyễn T C, Nguyễn Văn D, Nguyễn Văn T (sinh năm 1999), Vũ Văn K, Nguyễn Văn Xvà Nguyễn Văn T (sinh năm 1984) đã có hành vi đánh bạc bằng hình thức chơi liêng được, thua bằng tiền với tổng số tiền sử dụng vào mục đích đánh bạc là 6.240.000đ thì bị bắt giữ cùng toàn bộ vật chứng. Như vậy,hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành thành tội: “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Xét kháng cáo của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy:
Tại giai đoạn phúc thẩm, bị cáo xuất trình tài liệu chứng cứ mới thể hiện Bị cáo đã nộp 2.000.000 đồng ủng hộ Quỹ vì người nghèo (có xác nhận của Ủy ban Mặt trận tổ quốc xã S, huyện T, tỉnh P); bị cáo có ông ngoại là Nguyễn Văn Quy được tặng thưởng Huy hiệu chiến sỹ Trường Sơn. Vì vậy, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xét thấy, bị cáo có 02 (hai) tình tiết giảm nhẹ phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng và thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 và tình nhiều tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng, có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội,áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ cũng đủ để giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung. Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm cần chấp nhận kháng cáo của bị cáo về việc xin giảm nhẹ hình phạt, cải tạo ngoài xã hội. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 25/2023/HSST ngày 20 tháng 6 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh P theo hướng xử phạt bị cáo cải tạo không giam giữ. [4] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh P là phù hợp nên chấp nhận. [5] Về án phí: Kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật. [6] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị, Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét. Vì các lẽ trên; QUYẾT ĐỊNH: [1] Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm đ khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 25/2023/HSST ngày 20 tháng 6 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh P về hình phạt chính đối với bị cáo Nguyễn Văn T. [2] Căn cứ vào khoản 1, Điều 321; Điểm i, s, Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật hình sự Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Đánh bạc”. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T 18 (mười tám) tháng cải tạo không giam giữ, được khấu trừ 09 ngày tạm giữ từ ngày 30/01/2023 đến ngày 07/02/2023, quy đổi bằng 27 ngày, bị cáo còn phải chấp hành 17 tháng 03 ngày cải tạo không giam giữ. Giao bị cáo cho Uỷ ban nhân dân xã S, huyện T, tỉnh P giám sát giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành hình sự và hỗ trợ tư pháphuyện T, tỉnh P nhận được Quyết định thi hành hình phạt cải tạo không giam giữ và bản sao bản án. Trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ: Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Bị cáo phải thực hiện một số nghĩa vụ về cải tạo không giam giữ và nghĩa vụ của Luật Thi hành án hình sự theo quy định tại khoản 3 Điều 36 Bộ luật Hình sự. [3] Về án phí: Áp dụng điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Nguyễn Văn T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. [4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận - VKSND tỉnh P; - TAND H. T; - VKSND H. T; - Công an H. T; - Chi cục THADS H. T; - Bị cáo; - Lưu HS; Lưu VP. CÁC THẨM PHÁN Phạm Văn Toàn Nguyễn Quang Vũ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Quang Vũ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Anh Tuấn |