vanban.org

Bản án 70

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Tẩn Mí S , phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Tẩn Mí S : 01 (một năm 02 (hai) tháng tù; được khấu trừ thời hạn tạm giữ 06 (sáu) ngày, bị cáo còn phải chấp hành 01 (một) năm 01(một) tháng 24 (hai mươi bốn) ngày tù; thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào trại chấp hành án. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Tẩn Mý S, Tàng trữ TPCMT - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Tẩn Mí S , phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN SÌN HỒ
TỈNH LAI CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 70/2023HS-ST
Ngày 23 tháng 8 năm 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÌN HỒ, TỈNH LAI CHÂU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Hồng Ngoãn.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thu và Ông Vàng A Măng.

Thư ký phiên tòa: Ông Phùng Trung Sơn- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu tham gia phiên tòa: Bà Lê Ngọc Trang- Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 8 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu, Toà án nhân dân huyện Sìn Hồ mở phiên toà xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm, thụ lý số: 84/2023/TLST-HS ngày 26 tháng 7 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 78/2023/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 8 năm 2023 đối với bị cáo: Tẩn Mí S ; tên gọi khác: không; sinh năm: 1980; nơi sinh: tại huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu; Nơi cư trú: HKTT: Bản Phăng Sô L , xã Phăng Sô L , huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: trồng trọt; Trình độ học vấn: không biết chữ; Dân tộc: Dao; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Tẩn A M (Đã chết) và Con bà Tẩn Mý Nh (tên gọi khác: Tẩn Mý Nh ; Tẩn Mý Ph ), sinh năm 1947; Chồng Tẩn A S , sinh năm 1981; con bị cáo 03 con, con lớn nhất sinh năm 1999; con nhỏ nhất sinh năm 2018; Tiền án: Không; Tiền sự: không; Về nhân thân: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 49/HSST, ngày 31/7/2012 của Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu, xử phạt bị cáo Tẩn Mí S 05 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Ngày 31/8/2015, Tẩn Mí S đã chấp hành xong hình phạt tù và các quyết định khác của bản án Tính đến ngày 22/3/2023 (ngày thực hiện hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy Tẩn Mí S đã được đương nhiên xóa án tích; Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 22/3/2023 đến ngày 28/3/2023 được áp dụng biện pháp ngăn ch n “Cấm đi khỏi nơi cư trú” tại xã Phăng Sô L , huyện Sìn Hồ cho đến nay; có m t.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Hồi 14 giờ 40 phút ngày 22/3/2023, tổ công tác Công an huyện Sìn Hồ làm nhiệm vụ tại khu vực Bản Phăng Sô L , xã Phăng Sô L , huyện Sìn Hồ thì phát hiện Tẩn Mí S , sinh năm 1980, trú tại bản Phăng Sô L , xã Phăng Sô L đang cuốc đất trong vườn nhà, có biểu hiện nghi vấn phạm tội nên tiến hành kiểm tra, khi áp sát lại gần, bất ngờ S di chuyển ra khu vực chuồng lợn của gia đình, ném từ tay phải ra 01 gói được gói ngoài bằng nilon màu hồng vào khe giữa đống củi và tường gạch bi chuồng lợn. Tổ công tác đã kịp thời khống chế, Sếnh khai nhận 01 gói được gói ngoài bằng nilon màu hồng S vừa ném ra là ma túy loại Heroine của Sếnh, cất giấu để chữa bệnh cho lợn của gia đình Tổ công tác đưa Sếnh đến vị trí phát hiện 01 gói nilon màu hồng do S ném ra, S xác nhận chính là gói Heroine S vừa vứt vào khe giữa đống củi và tường gạch bi chuồng lợn với mục đích phi tang vật chứng. Tổ công tác đã mời người chứng kiến, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, tiến hành khám nghiệm hiện trường, thu giữ và niêm phong vật chứng theo quy định.

Về nguồn gốc gói Heroine trên, Sếnh khai nhận, cuối năm 2022, Sếnh đi vào huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu và đã dùng vải thổ cẩm để đổi được 01 gói ma túy được gói ngoài bằng nilon màu hồng này của một người phụ nữ dân tộc Mông, không biết tên tuổi, địa chỉ Sau khi mua được Heroine, S đem về nhà ở bản Phăng Sô Lin, xã Phăng Sô Lin, huyện Sìn Hồ, chôn dưới đất, gần hố phân lợn trong vườn không cho ai biết Đến chiều ngày 22/3/2023, Sếnh cuốc gói Heroine này ra, định để pha thuốc chữa bệnh cho lợn thì bị lực lượng công an đến kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang và thu giữ vật chứng Cùng ngày CQĐT đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Tẩn Mí S, kết quả không phát hiện, thu giữ gì.

Tại bản Kết luận giám định số 39 ngày 22/3/2023, của người giám định tư pháp theo vụ việc kết luận: Mẫu chất bột màu trắng gửi giám định có khối lượng là 0,27 gam Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Sìn Hồ đã gửi toàn bộ 0,27 gam chất bột màu trắng thu giữ của Tẩn Mí S đi giám định chất ma túy Tại bản kết luận giám định số 351/KL-KTHS ngày 24/3/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an Tỉnh Lai Châu kết luận: Mẫu chất bột màu trắng gửi giám định là ma túy, loại Heroin.

Tại Bản cáo trạng số: 57/CT-VKSSH ngày 26 tháng 7 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu để xét xử bị cáo Tẩn Mí S về tội “Tàng Trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo Tẩn Mí S thừa nhận đã thực hiện hành vi phạm tội như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu đã truy tố là không oan, không sai.

Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Tẩn Mí S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Tẩn Mí S từ 01 năm 01 tháng đến 01năm 04 tháng tù; Về hình phạt bổ sung: Đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự; Về vật chứng: Áp dụng Điều 46, khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự, đề nghị tịch thu, tiêu huỷ Áp dụng Điều 46, khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự. Tịch thu và tiêu huỷ 02 mảnh nilon màu hồng, đây là vật chứng của vụ án do không còn giá trị sử dụng; đối với 0,27 gam Heroine đã gửi toàn bộ đi giám định, không hoàn lại mẫu vật giám định nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết; Về án phí: căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 và Tại phiên tòa bị cáo có đơn xin được miễn án phí nên đề nghị Hội đồng xét xử miễn án phí hình sự cho bị cáo vì hoàn cảnh gia đình khó khăn thuộc trường hợp người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn theo Quyết định số 861/QĐ-TTg ngày 04/6/2021 của Thủ tướng Chính phủ quy định về vùng miền khó khăn giai đoạn 2021-2025.

Bị cáo Tẩn Mí S không bổ sung ý kiến gì thêm, nhất trí và không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu.

Lời nói sau cùng của bị cáo: bị cáo hối hận về hành vi phạm tội của mình, bị cáo thường xuyên đau ốm nên mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và mong Hội đồng xét xử miễn án phí cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của mình theo quy định tại Điều 37, Điều 42 của Bộ luật Tố tụng hình sự; các tài liệu, chứng cứ được thu thập theo đúng trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng hình sự quy định. Quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến ho c khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đều là hợp pháp.

Đánh giá chứng cứ, yêu cầu, đề nghị của Kiểm sát viên, hành vi của bị cáo: Tại phiên toà, bị cáo Tẩn Mí S đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Xét lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với các lời khai của bị cáo và các tài liệucó trong hồ sơ vụ án, chứng cứ đã thu thập đúng trình tự, thủ tục tố tụng hình sự; căn cứ kết quả tranh luận tại phiên toà. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Hồi 14 giờ 40 phút ngày 22/3/2023, tại bản Phăng Sô L , xã Phăng Sô L , huyện Sìn Hồ, Tẩn Mí S đang thực hiện hành vi tàng trữ trái phép 0,27 gam Heroine, mục đích để sử dụng, thì bị Công an huyện Sìn Hồ phát hiện, bắt quả tang. Bị cáo Tẩn Mí S là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của mình Hành vi Tàng trữ trái phép chất ma tuý của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma túy, làm ảnh hưởng đến hình hình an ninh, trật tự trên địa bàn huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu. Bị cáo Tẩn Mí S nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vì mục đích tàng trữ để sử dụng cho bản thân nên bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 49/HSST, ngày 31/7/2012 của Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu, xử phạt bị cáo Tẩn Mí S 05 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” Ngày 31/8/2015, Tẩn Mí S đã chấp hành xong hình phạt tù và các quyết định khác của bản án Tính đến ngày 22/3/2023 (ngày thực hiện hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy Tẩn Mí S đã được đương nhiên xóa án tích, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dư ng và r n luyện bản thân, tu chí làm ăn để chăm lo phát triển kinh tế gia đình mà bị cáo lại có thái độ coi thường pháp luật ị cáo Tẩn Mí S lại tiếp tục thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy với mục đích để sử dụng cho bản thân. Vì vậy, Hội đồng xét xử, xét thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định nhằm giáo dục, cải tạo để bị cáo có thể trở thành công dân tốt cho gia đình và xã hội Hành vi phạm tội của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự với lỗi cố ý trực tiếp.

Do đó, lời luận tội của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà giữ nguyên quan điểm truy tố và áp dụng điểm c khoản 1 điều 249, Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử, xử phạt bị cáo Tẩn Mí S từ 01 năm 01 tháng đến 01 năm 04 tháng tù đối với bị cáo là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật nên cần được chấp nhận.

Về tình tiết tăng n ng trách nhiệm hình sự: bị cáo Tẩn Mí S không có tình tiết tăng n ng trách nhiệm Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa. Bị cáo Tẩn Mí S đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; Bị cáo là người dân tộc thiểu số, không biết chữ, hiện sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đ c biệt khó khăn theo Quyết định số 861/QĐ-TTg ngày 04/6/2021 của Thủ tướng Chính phủ. Ngoài ra bị cáo có bệnh suy nhược thần kinh, Viêm dạ dày trào ngược thực quản, viêm âm đạo và suy tuyến giáp; bị cáo có ông nội là Tẩn Cuổi Ph , đã có thời gian tham gia dân công Hỏa tuyến; được hưởng chế độ theo Quyết định số 49/2015/QĐ-TTg ngày 14/10/2015 của Thủ tướng Chính Phủ. Vì vậy, bị cáo được hưởng những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt bổ sung: xét thấy bị cáo làm nghề trồng trọt và thu nhập không ổn định Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự. Tịch thu và tiêu huỷ 02 mảnh nilon màu hồng, đây là vật chứng của vụ án do không còn giá trị sử dụng; đối với 0,27 gam Heroine đã gửi toàn bộ đi giám định, không hoàn lại mẫu vật giám định nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí:Theo quy định tại Điều 135 và Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số: 326/2016/U TVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Bị cáo Tẩn Mí S là người dân tộc thiểu số, hiện sinh sống tại bản Phăng Sô L là bản đ c biệt khó khăn theo vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi theo Quyết định số 861/QĐ-TTg ngày 04/6/2021 của Thủ tướng Chính phủ và quyết định số 612/QĐ- UBDT ngày 16/9/2021 của Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc. Tại phiên tòa bị cáo có ý kiến xin được miễn án phí hình sự sơ thẩm nên Hội đồng xét xử quyết định miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có m t tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Về biện pháp ngăn ch n: Cấm bị cáo đi khỏi nơi cư trú kể từ ngày tuyên án cho đến thời điểm bị cáo vào trại chấp hành án.

Về trách nhiệm của chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú và những người liên quan: Thông qua vụ án này, đề nghị cấp chính quyền địa phương các xã thị trấn, huyện Sìn Hồ cần nâng cao tuyên truyền, giải thích cho người dâncó ý thức chấp hành tốt các chủ trương đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước Tăng cường đấu tranh phòng chống tệ nạn ma túy và có các biện pháp giữ gìn trật tự an ninhtrên địa bàn.

Về nguồn gốc số Heroine, bị cáo Tẩn Mí S khai nhận mua của một người phụ nữ không biết tên họ, tên, địa chỉ tại huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu. Do dó Cơ quan điều tra Công an huyện Sìn hồ không có cơ sở để điều tra làm rõ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106, Điều 135, Điều 136, Điều 331, Điều 332 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/U TVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án đối với bị cáo.

1.Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Tẩn Mí S , phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

2.Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Tẩn Mí S : 01 (một năm 02 (hai) tháng tù; được khấu trừ thời hạn tạm giữ 06 (sáu) ngày, bị cáo còn phải chấp hành 01 (một) năm 01(một) tháng 24 (hai mươi bốn) ngày tù; thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào trại chấp hành án.

Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

3.Về xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy 02 mảnh nilon màu hồng do không còn giá trị sử dụng.

4. Về án phí sơ thẩm: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có m t tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 23 tháng 8 năm 2023).

Cỡ chữ