vanban.org

Bản án 70/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Bị cáo Mông Đàm L phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Về hình phạt: Về xử lý vật chứng: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Mông Đàm L - tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Bị cáo Mông Đàm L phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 3 - CAO BẰNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 70/2026/HS-ST
Ngày 14-4-2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - CAO BẰNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Quang Toàn.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Khoa.

Ông Nguyễn Vĩnh An.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nông Văn Quỳnh - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 3 - Cao Bằng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Cao Bằng tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn Biên - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 4 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3 - Cao Bằng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 58/2026/TLST-HS ngày 27 tháng 3 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 72/2026/QĐXXST - HS ngày 01 tháng 4 năm 2026 đối với bị cáo:

Mông Đàm L (tên gọi khác: không), sinh ngày 05 tháng 8 năm 1991 tại xã T, tỉnh Cao Bằng.

Nơi đăng ký thường trú và nơi ở hiện nay: Xóm N, xã T, tỉnh Cao Bằng; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Mông Đàm Đ, sinh năm 1966 và bà Nông Thị L1, sinh năm 1967; vợ: Phan Thị Hồng N, sinh năm 1993; con: Có 02 con; tiền án, tiền sự: Không có.

Bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/12/2025 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Phân Trại tạm giam T, Trại tạm giam Công an tỉnh Cao Bằng; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 16 giờ 30 phút ngày 29/12/2025, tổ công tác Công an xã V thực hiện nhiệm vụ tuần tra bảo đảm an ninh trật tự tại xóm Q, xã V phát hiện Mông Đàm L đang đi bộ theo hướng xã Đ - xã V có biểu hiện nghi vấn. Tổ công tác tiến hành kiểm tra phát hiện bên trong tay trái của Mông Đàm L có 01 vỏ bao thuốc lá màu vàng nhãn hiệu Thăng Long, bên trong vỏ bao thuốc có 01 mảnh giấy vệ sinh màu trắng, bên trong mảnh giấy vệ sinh có 01 gói nhỏ được bọc bằng lớp ni lông màu xanh và 01 lớp giấy bạc màu vàng bên trong chứa chất bột màu trắng. L khai số chất bột màu trắng trên là ma túy, loại Heroine, mua về để sử dụng. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang thu giữ gói vật chứng để điều tra, làm rõ. Tiến hành khám xét nơi ở của Mông Đàm L tại xóm N, xã T, tỉnh Cao Bằng không phát hiện, thu giữ đồ vật, tài liệu liên quan.

Hồi 22 giờ 45 phút, cùng ngày Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh C, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Cao Bằng và các thành phần liên quan tiến hành mở niêm phong cân vật chứng thu giữ của Mông Đàm L có khối lượng 0,15 gam.

Tại kết luận giám định số 02/KL-KTHS ngày 06/01/2026 của Phòng K, Công an tỉnh Cao Bằng kết luận: "Mẫu chất bột màu trắng bên trong phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Heroine".

Tại cơ quan điều tra, Mông Đàm L khai: Bản thân sử dụng ma túy từ năm 2021, loại ma túy sử dụng là Heroine. Khoảng 14 giờ ngày 29/12/2025, L đi từ nhà tại xóm N, xã T đến khu vực xóm P, xã Đ để tìm mua ma túy. Tại ngã ba xóm P, L gặp và mua ma túy với một người đàn ông không rõ họ tên, địa chỉ 01 gói ma túy với số tiền 200.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, L giấu gói ma túy vào trong vỏ bao thuốc lá Thăng Long nhặt được trên đường và đi bộ về hồ B để sử dụng ma túy. Đi được khoảng 02 km L gặp và đi nhờ xe mô tô của một người đàn ông không quen biết từ hồ B đi xã Đ. Đến ngã ba thuộc xóm N, xã Đ, L xuống xe đi bộ theo hướng xã V tìm nơi vắng để sử dụng ma túy. Khi đi đến đoạn đường thuộc xóm Q, xã V thì bị tổ công tác Công an xã V phát hiện, bắt quả tang.

Vật chứng của vụ án đã được Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Cao Bằng ban hành Quyết định chuyển đến Phòng Thi hành án dân sự khu vực 3 - Cao Bằng để đảm bảo việc xét xử, thi hành án theo quy định của pháp luật.

Hành vi của Mông Đàm L đã bị Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an tỉnh C lập hồ sơ đề nghị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Bản cáo trạng số 13/CT-VKSKV3 ngày 27/3/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Cao Bằng đã truy tố Mông Đàm L về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo Mông Đàm L thừa nhận nội dung Bản cáo trạng phản ánh đúng hành vi bị cáo thực hiện, mục đích mua ma túy về để sử dụng ngoài ra không còn mục đích nào khác.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Cao Bằng giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Bị cáo Mông Đàm L phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Về hình phạt đề nghị:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Mông Đàm L từ 03 năm đến 03 năm 09 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Việc xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị: Tịch thu tiêu hủy vật chứng là ma túy hoàn lại sau giám định, 01 lớp ni lông màu xanh, 01 mảnh giấy bạc màu vàng, 01 mảnh giấy vệ sinh, 01 vỏ bao thuốc lá.

Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận.

Trong lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật, xử mức án nhẹ nhất để bị cáo sớm được trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Cao Bằng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo: Xét lời khai bị cáo Mông Đàm L tại giai đoạn điều tra và tại phiên tòa phù hợp nhau, phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thu thập đúng trình tự thủ tục tố tụng có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 29/12/2025, tại đoạn đường thuộc xóm Q, xã V, tỉnh Cao Bằng, Mông Đàm L bị tổ công tác Công an xã V, tỉnh Cao Bằng bắt quả tang về hành vi tàng trữ 0,15 gam ma túy, loại Heroine để sử dụng cho bản thân.

Xét tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý về ma túy của Nhà nước, nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội và vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện. Mục đích mua ma túy về để sử dụng cho bản thân. Hành vi của Mông Đàm L đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Do vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Cao Bằng truy tố bị cáo về tội danh và điều luật đã viện dẫn nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

. Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

- Về nhân thân: Bị cáo Mông Đàm L là người nghiện ma túy.

- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào theo quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội; bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Mức hình phạt đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Cao Bằng đề nghị áp dụng đối với bị cáo phù hợp với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội nên cần được chấp nhận.

. Hình phạt bổ sung:

Khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự quy định:“Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Xét thấy bản thân bị cáo là đối tượng nghiện ma tuý, không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

. Việc xử lý vật chứng:

Vật chứng ma túy hoàn lại sau giám định là chất cấm, vật chứng không có giá trị sử dụng thì tịch thu, tiêu hủy.

. Các vấn đề khác:

Về nguồn gốc số ma túy bị cáo bị bắt: Khi bị bắt bị cáo khai nhận mua ma túy với người đàn ông không rõ họ tên, địa chỉ. Quá trình điều tra không làm rõ được người bán ma túy cho bị cáo là ai. Do đó cơ quan điều tra không có căn cứ để mở rộng điều tra vụ án.

. Về nghĩa vụ chịu án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố:

Bị cáo Mông Đàm L phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.

2. Về hình phạt:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Mông Đàm L 03 năm tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam 29/12/2025.

3. Về xử lý vật chứng:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy:

- 01 (một) phong bì thư niêm phong, mặt trước phong bì ghi: 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu, 01 vỏ bao thuốc lá, 01 mảnh giấy vệ sinh, 01 mảnh giấy bạc màu vàng, 01 lớp ni lông màu xanh thu giữ đối với Mông Đàm L ngày 29/12/2025. Mặt sau phong bì có chữ ký của các thành phần tham gia và đóng 04 hình dấu tròn mực màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Cao Bằng.

- 01 (một) phong bì thư niêm phong, mặt trước phong bì ghi: Số: 02/KL-KTHS hoàn lại mẫu sau giám định Mông Đàm L có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy. Mặt sau phong bì có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong và đóng dấu của Phòng K Công an tỉnh Cao Bằng.

Xác nhận toàn bộ các vật chứng nêu trên đã được chuyển giao cho Phòng Thi hành án dân sự khu vực 3 - Cao Bằng theo Biên bản giao nhận vật chứng số 67 ngày 26 tháng 3 năm 2026.

4. Về án phí:

Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Mông Đàm L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng nộp vào ngân sách Nhà nước.

5. Về quyền kháng cáo:

Căn cứ khoản 1 Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ