vanban.org

Bản án 70/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Tuyên bố không công nhận quan hệ giữa bà Thị K và ông Danh B là vợ chồng.

Về con chung: Bà Thị K xác định bà và ông Danh B có 04 người con chung tên Thị Kim H - sinh ngày 01/01/1990, Danh D - sinh ngày 01/01/1992, Thị Kim D1 - sinh ngày 01/01/1994 và Thị Kim H1 - sinh ngày 08/02/1997, hiện nay con đã trưởng nên bà K không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Thị K - Danh B"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Tuyên bố không công nhận quan hệ giữa bà Thị K và ông Danh B là vợ chồng.
  • Căn cứ chính? Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHẬN DÂN
KHU VỰC 5 - AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 70/2026/HNGĐ-ST
Ngày: 12-3-2026
V/v: “Tranh chấp về ly hôn và yêu cầu nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Hoài Thanh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Danh Út Nhỏ;

2. Bà Nguyễn Thị Hạnh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Phúc - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5 - An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 tham gia phiên tòa: Ông Võ Hoàng Hạt - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 3 năm 2026, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 - An Giang (cơ sở 2), đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 379/2025/TLST-HNGĐ, ngày 03/11/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 60/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 02/02/2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 103/2026/QĐST-HNGĐ ngày 24/02/2026, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Thị K - sinh năm 1970 (có đơn xin vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp X, xã Đ, tỉnh A.

2. Bị đơn: Anh Danh B - sinh năm 1970 (vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp X, xã Đ, tỉnh A.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện xin ly hôn đề ngày 31/10/2025 của nguyên đơn bà Thị K trình bày: Tôi và ông Danh B không có tìm hiểu nhau trước mà do mai mối nên đến năm 1989 chúng tôi được cha mẹ hai bên có tổ chức đám cưới theo phong tục địa phương, hôn nhân tự nguyện và không có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật.

Sau khi kết hôn chúng tôi sống hạnh phúc đến năm 2018 thì vợ chồng tôi phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không mâu thuẫn vì lớn nhưng do chồng tôi có người phụ nữ khác bên ngoài nên chúng tôi đã ly thân từ năm 2018 đến nay. Nay xét thấy cuộc sống hôn nhân không còn hàn gắn được nữa, vợ chồng không còn tình cảm với nhau nên tôi yêu cầu tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với chồng tôi là Danh B.

Về con chung: Tôi xác định có 04 người con chung tên Thị Kim H - sinh ngày 01/01/1990, Danh D - sinh ngày 01/01/1992, Thị Kim D - sinh ngày 01/01/1994 và Thị Kim H1 - sinh ngày 08/02/1997, hiện nay con đã trưởng nên tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Tôi xác định vợ chồng không có tạo lập được tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Tôi xác định vợ chồng không có thiếu nợ ai nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Nay tôi yêu cầu Tòa án giải quyết như sau:

Về hôn nhân: Tôi xin được ly hôn với chồng tôi là Danh B.

Về con chung: Tôi xác định vợ chồng có 04 người con chung tên Thị Kim H - sinh ngày 01/01/1990, Danh B - sinh ngày 01/01/1992, Thị Kim D - sinh ngày 01/01/1994 và Thị Kim H1 - sinh ngày 08/02/1997, hiện nay con đã trưởng nên tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Như trình bày trên tôi không yêu cầu thêm gì.

Đối với ông Danh B trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ ông B nhiều lần nhưng ông vắng mặt không có lý do.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:

Về tố tụng: Tòa án thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền, xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, người tham gia tố tụng; việc thu thập tài liệu, chứng cứ, cấp tống đạt cho người tham gia tố tụng và Viện kiểm sát đúng quy định. Tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử, Thư ký chấp hành đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Đối với nguyên đơn chấp hành đúng theo quy định của pháp luật còn bị đơn đã được thông báo và tống đạt các văn bản tố tụng đúng quy định nhưng vắng mặt tại phiên tòa không lý do là không tuân thủ quy định của pháp luật.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Qua nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời khai của đương sự cũng như tại phiên tòa hôm nay, đối chiếu với các quy định của pháp luật đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử tuyến bố không nhận bà Thị K và ông Danh B là vợ chồng. Về con chung: Bà Thị K xác định bà và ông Danh B có 04 người con chung tên Thị Kim H - sinh ngày 01/01/1990, Danh D - sinh ngày 01/01/1992, Thị Kim D - sinh ngày 01/01/1994 và Thị Kim H1 - sinh ngày 08/02/1997, hiện nay con đã trưởng nên bà K không yêu cầu Tòa án giải quyết nên miễn xét. Về tài sản chung và nợ chung: Miễn xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ và toàn diện các chứng cứ, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Tranh chấp giữa chị bà Thị K và ông Danh B là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại Điều 28 và Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Bà Thị K là nguyên đơn và ông Danh B là bị đơn vắng mặt tại phiên tòa nhưng bà K có đơn xin xét xử vắng mặt còn ông B được Tòa án tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng tại nơi ông có hộ khẩu thường trú theo quy định của pháp luật nhưng ông không có mặt tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227 và Điêu 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bà Thị K và ông Danh B là phù hợp.

Về hôn nhân: Bà Thị K và ông Danh B kết hôn với nhau vào năm 1989, hôn nhân tự nguyện, có tổ chức đám cưới theo phong tục địa phương nhưng không làm thủ tục đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền là vi phạm Điều 8 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986. Trong quá chung sống ông bà cũng không có đăng ký kết hôn, do ông bà không tuân thủ đúng theo quy định của pháp luật về hôn nhân gia đình nên hôn nhân của ông bà là hôn nhân không hợp pháp. Mặc khác, tại thời điểm xét xử, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã có hiệu lực nên căn cứ vào Điều 53 và Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử không công nhận quan hệ giữa bà Thị K và ông Danh B là vợ chồng.

Xét về quan hệ hôn nhân cho thấy: Dù hôn nhân của bà Thị K và ông Danh B là hôn nhân tự nguyện nhưng trước khi kết hôn ông bà không có tìm hiểu nhau trước mà do mai mối. Tuy nhiên, ông bà sống với nhau có 4 người con chung đã trưởng thành nhưng ông bà chưa tìm hiểu kỹ cá tính của nhau, vì vậy khi xác lập cuộc sống chung vợ chồng thì lại bộc lộ ra những cá tính không phù hợp. Bà K cho rằng do ông B có người phụ nữ khác bên ngoài nên ông bà đã ly thân từ năm 2018 đến nay. Do đó, ngày 13/01/2026 và ngày 30/01/2026 Tòa án đã tiến hành hòa giải để động viên, giải thích giúp vợ chồng ông bà đoàn tụ nhưng ông B không có mặt tại Tòa án nên Tòa án không thể ghi nhận ý kiến của ông B. Xét thấy, vợ chồng ông bà đã sống ly thân với nhau từ năm 2018 đến nay và bà K cũng tỏ rõ thái độ không còn tình cảm và yêu thương ông B nữa nên cương quyết xin ly hôn với bà. Từ đó, cho thấy mâu thuẫn của anh chị đã trở nên trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ Điều 53 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử không công nhận nhận quan hệ giữa bà Thị K và ông Danh B là vợ chồng.

Đối với ông Danh B, trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, Tòa án kết hợp với chính quyền địa phương trực tiếp đến nhà ông B tống đạt các văn bản tố tụng đúng theo quy định của pháp luật nhưng ông B không có mặt tại Tòa án để làm các văn bản gửi cho Tòa án nên không có căn cứ để xem xét ý kiến của anh. Từ đó, cho thấy ông B đã biết được nội dung yêu cầu xin ly hôn của bà K. Do đó, HĐXX thống nhất xét xử vắng mặt ông Danh B theo quy định của pháp luật.

Về con chung: Bà Thị K1 xác định bà và ông Danh B có 04 người con chung tên Thị Kim H - sinh ngày 01/01/1990, Danh D - sinh ngày 01/01/1992, Thị Kim D - sinh ngày 01/01/1994 và Thị Kim H1 - sinh ngày 08/02/1997, hiện nay con đã trưởng nên bà K không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị Bà Thị K xác định bà và ông Danh B không có tài sản chung và không có thiếu nợ ai nên bà K không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét.

Tại phiên tòa sau khi xem xét lời trình bày của nguyên đơn và đại diện Viện kiểm sát có quan điểm là tuyên bố không công nhận quan hệ giữa bà Thị K và ông Danh B là vợ chồng, xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí hôn nhân sơ thẩm là: 300.000 đồng bà Thị K phải nộp do bà có yêu cầu xin ly hôn nhưng bà được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà bà đã nộp trước đây là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0006939, ngày 31/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh An Giang. Như vậy, bà Thị K đã nộp đủ án phí hôn nhân sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 53 và Điều 131 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Tuyên bố không công nhận quan hệ giữa bà Thị K và ông Danh B là vợ chồng.

2. Về con chung: Bà Thị K xác định bà và ông Danh B có 04 người con chung tên Thị Kim H - sinh ngày 01/01/1990, Danh D - sinh ngày 01/01/1992, Thị Kim D1 - sinh ngày 01/01/1994 và Thị Kim H1 - sinh ngày 08/02/1997, hiện nay con đã trưởng nên bà K không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét.

3. Về tài sản chung và nợ chung: HĐXX miễn xét.

4. Về án phí hôn nhân sơ thẩm là: 300.000 đồng bà Thị K phải nộp do bà có yêu cầu xin ly hôn nhưng bà được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà bà đã nộp trước đây là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0006939, ngày 31/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh An Giang. Như vậy, bà Thị K đã nộp đủ án phí hôn nhân sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án là ngày 12/3/2025.

Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ