vanban.org

Bản án 70/2025/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Bắc Từ Liêm, TP. Hà Nội Tuyên án 10/04/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Cao Văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Cao Văn D 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 18/12/2024. Xử lý vật chứng: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Cao Văn D - Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS nă…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Cao Văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN B
THÀNH PHỐ H

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 70/2025/HS-ST
Ngày: 10/4/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN B, THÀNH PHỐ H

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Văn Q;

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Bùi Thị Q và ông Phí Văn C.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh D - Thư ký Tòa án nhân dân quận B thành phố H.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận B, thành phố H tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu H - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận B, thành phố H xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số: 65/2025/TLST-HS ngày 14 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 54/2025/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 3 năm 2025 đối với:

Bị cáo Cao Văn D, sinh năm 2002 tại T; nơi đăng ký thường trú: Thôn L, xã C, huyện C1, tỉnh T; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: lớp 10/12; dân tộc: Mường; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Cao Đức H và con bà Trịnh Thị H; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không.

Bị bắt quả tang, tạm giữ ngày 18/12/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Số 1 – Công an thành phố H. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ ngày 17/12/2024, Cao Văn D quen một nam thanh niên tên "Tùng" (không rõ nhân thân, lai lịch). Sau khi uống rượu xong ở khu vực T1, xã T2, huyện T3, thành phố H thì "Tùng" rủ D đi chơi và sử dụng ma túy cùng bạn của "Tùng", D đồng ý. Cả hai bắt xe ôm đến khu vực đường P giao với đường V, phường P, quận B, thành phố H. Khi đến trước cửa số nhà 61 đường V thì "Tùng" đưa cho D 01 chiếc khẩu trang màu đen bên trong có 01 tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng bên trong chứa ma túy rồi bảo D đứng chờ "Tùng" đi vệ sinh. D cầm ma túy cất giấu vào túi áo khoác bên phải đang mặc. Đến khoảng 00 giờ 10 ngày 18/12/2024, không thấy "Tùng" quay lại nên D đã đi bộ ra khu vực đường P để tìm "Tùng" thì bị bắt quả tang. Thu giữ của D 01 chiếc khẩu trang màu đen bên trong có 01 tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng bên trong chứa tinh thể màu trắng và các mảnh viên nén màu hồng; 01 điện thoại di động kiểu dáng Samsung Galaxy A71 màu đen đã qua sử dụng, bị vỡ màn hình, phần nắp lưng điện thoại bị bong ra khỏi thâm máy, lắp số 0389972119.

Kết luận giám định số 9067/KL-KTHS ngày 27/12/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố H kết luận: 01 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 2000 đồng bên trong có: Tinh thể màu trắng là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 0,162 gam; các mảnh viên nén màu hồng đều là ma túy loại Methamphetamine, tổng khối lượng 0,047 gam.

Xét nghiệm tìm chất ma túy trong cơ thể của Cao Văn D cho kết quả âm tính (không sử dụng chất ma túy). Tại cơ quan điều tra, Cao Văn D khai nhận như trên và khai bản thân có sử dụng ma túy từ khoảng đầu năm 2023. Số ma túy bị thu giữ là của "Tùng" đưa cho để cùng nhau sử dụng, do D mới quen biết "Tùng" nên không rõ nhân thân lai lịch của "Tùng".

Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an quận B tiến hành dẫn giải Cao Văn D xác định địa điểm nơi D cùng "Tùng" uống rượu và địa điểm nơi D nhận ma túy của "Tùng" nhưng không phát hiện người đưa ma túy cho D. Ngoài lời khai của D, cơ quan điều tra không xác định được thông tin gì khác liên quan đến nhân thân của đối tượng “Tùng” nên không có căn cứ mở rộng điều tra.

Tại bản Cáo trạng số 56/CT-VKSBTL, ngày 10/3/2025, Viện kiểm sát nhân dân quận B đã truy tố Cao Văn D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa: Bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng và xin được giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo theo nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; đề nghị xử phạt bị cáo Cao Văn D từ 12 đến 15 tháng tù; vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy ma túy, khẩu trang đã thu giữ, trả lại bị cáo điện thoại di động.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan điều tra Công an quận B, thành phố H; Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân quận B, thành phố H: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa, phù hợp với biên bản phạm tội quả tang, lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, vật chứng được thu giữ, kết luận giám định, cùng các chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 00 giờ 10 phút ngày 18/12/2024, tại khu vực đầu đường P giao với đường V, phường P, quận B, thành phố H, Cao Văn D tàng trữ trái phép 0,209 gam ma túy Methamphetamine để sử dụng thì bị bắt quả tang. Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Vì vậy cáo trạng truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

. Quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xét thấy:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chính sách phòng ngừa, ngăn chặn và kiểm soát tệ nạn ma tuý. Bị cáo biết ma túy tác hại xấu đến sức khỏe của con người, biết pháp luật nghiêm cấm nhưng chỉ vì đua đòi, cố ý tàng trữ ma túy để sử dụng, tiếp tay cho tệ nạn ma túy, không những gây mất trật tự xã hội mà còn là nguyên nhân gây ra các loại tội phạm khác nên cần áp dụng hình phạt tù để cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, quyết định hình phạt Hội đồng xét xử cũng xem xét: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

. Về vật chứng: Quá trình điều tra thu giữ:

- 01 phong bì niêm phong bên trong chứa ma túy, tang vật hoàn lại sau giám định, bên ngoài có chữ ký giáp lai của Cao Văn D, Giám định viên và cán bộ Công an phường là vật cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy. Đối với 01 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 2000 đồng là phương tiện dùng vào việc phạm tội cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

- 01 khẩu trang màu đen đã qua sử dụng là phương tiện dùng vào việc phạm tội và không có giá trị cần tịch thu tiêu hủy.

- 01 điện thoại di động kiểu dáng Samsung Galaxy A71 màu đen bị vỡ màn hình, nắp vỏ sau bị bung ra khỏi máy, đã qua sử dụng, lắp số thuê bao 0389972119 không liên quan đến tội phạm cần trả lại bị cáo.

Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 46; Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.

2. Tuyên bố: Cao Văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

3. Xử phạt: Cao Văn D 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 18/12/2024.

4. Xử lý vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy:

+ 01 phong bì niêm phong bên trong chứa ma túy đã giám định, bên ngoài có chữ ký giáp lai của Cao Văn D, Giám định viên và cán bộ Công an phường;

+ 01 khẩu trang màu đen đã qua sử dụng.

- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 2000 đồng.

- Trả lại bị cáo Cao Văn D 01 điện thoại di động kiểu dáng Samsung Galaxy A71 màu đen bị vỡ màn hình, nắp vỏ sau bị bung ra khỏi máy, đã qua sử dụng, lắp số thuê bao 0389972119.

(Chi tiết vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng số 149/25 ngày 26/3/2025 giữa Chi cục Thi hành án dân sự quận B và Công an quận B, thành phố H).

5. Về án phí và quyền kháng cáo:

Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. .

Cỡ chữ