- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị Ngọc T.
- Căn cứ chính? Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ NINH TỈNH QUẢNG NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 70/2025/HNGĐ-ST Ngày: 20-5-2025 V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ NINH, TỈNH QUẢNG NAM
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Trung Thành.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Nhàng, ông Trương Thanh Liêm.
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Diệu - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Mai Cúc - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 20/2025/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 02 năm 2025, về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 4 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 15/2025/QĐST-HNGĐ ngày 06 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị Ngọc T, sinh năm 1996. Địa chỉ: Thôn 1, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Nam, có mặt.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1988. Địa chỉ: Khối phố B, thị trấn P, huyện P, tỉnh Quảng Nam, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, các lời khai tiếp theo và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Huỳnh Thị Ngọc T trình bày:
Quan hệ hôn nhân: Bà và Nguyễn Văn T tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn vào năm 2015 tại UBND xã T (Nay là UBND thị trấn P), huyện P, tỉnh Quảng Nam. Trong quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng không cùng quan điểm sống, chồng thường xuyên nhậu nhẹt, đánh đập vợ con và sử dụng ma túy, mặc dù hai bên gia đình thường xuyên khuyên ngăn, tạo điều kiện để vợ chồng làm ăn nhưng ôngT vẫn không thay đổi. Từ tháng 11/2024, vợ chồng đã sống ly thân, ôngT không quan tâm đến con cái, gia đình. Nay bà thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Văn T.
Về con chung: Bà và ôngT có ba con chung là Nguyễn Hoàng Tường V, sinh ngày 26/11/2012, Nguyễn Hoàng Anh Th, sinh ngày 12/11/2016 và Nguyễn Võ Thiên P, sinh ngày 13/01/2020. Nếu ly hôn bà có nguyện vọng nuôi cả ba con và yêu cầu ôngT cấp dưỡng nuôi con chung mỗi con 1.500.000 đồng/tháng cho đến khi các con trưởng thành.
Về tài sản chung; nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Theo biên bản ghi lời khai và các lời khai có trong hồ sơ, bị đơn ông Nguyễn Văn T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Ông thống nhất theo trình bày của bà T. Về nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn, do trước đây ông có sử dụng ma túy và có đánh vợ nên bà T xin ly hôn. Hiện nay hai vợ chồng sống ly thân, ông sống với mẹ đẻ ở huyện Phú Ninh, bà T sống với gia đình ở huyện Tiên Phước. Nay bà T yêu cầu giải quyết ly hôn thì ông không đồng ý vì ông đã bỏ ma túy và còn thương vợ mong vợ về sống đoàn tụ làm ăn và nuôi con.
Về con chung: Vợ chồng ông có ba con chung như trình bày của bà T. Nếu ly hôn ông có nguyện vọng nuôi con Nguyễn Hoàng Anh Th và giao hai con Nguyễn Hoàng Tường V và Nguyễn Võ Thiên P cho bà Huỳnh Thị Ngọc T nuôi dưỡng không bên nào cấp dưỡng nuôi con chung. Nếu bà T nhận nuôi cả ba con thì ông không cấp dưỡng nuôi con chung, khi nào có tiền thì cho con.
Về tài sản chung; nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ý kiến của kiểm sát viên:
Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử thực hiện đúng và đầy đủ các thủ tục tố tụng. Nguyên đơn thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình; Bị đơn chưa thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình.
Về nội dung vụ án: căn cứ các Điều 56, 58, 81, 82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình, đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn bà Huỳnh Thị Ngọc T. Về quan hệ hôn nhân: cho bà Huỳnh Thị Ngọc T và ông Nguyễn Văn T ly hôn. Về nuôi con chung: giao ba cháu Nguyễn Hoàng Tường V, sinh ngày 26/11/2012, Nguyễn Hoàng Anh Th, sinh ngày 12/11/2016 và Nguyễn Võ Thiên P, sinh ngày 13/01/2020 cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi thành niên, ông T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định. Về tài sản chung, nợ chung: bà T không có yêu cầu nên không đề nghị giải quyết.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu được thẩm tra tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ và toàn diện các chứng cứ và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng:
Về quan hệ pháp luật: bà Huỳnh Thị Ngọc T yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn và nuôi con chung nên xác định quan hệ tranh chấp là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” là đúng quy định tại Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn ông Nguyễn Văn T có địa chỉ: khối phố Bình Thạnh, thị trấn Phú Thịnh, huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam theo quy định tại các Điều 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án đã triệu tập hợp lệ ông Nguyễn Văn T đến lần thứ hai nhưng ông T1 vẫn vắng mặt tại phiên tòa nên Tòa án xét xử vắng mặt ông T1 là đúng quy định tại các Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: bà Huỳnh Thị Ngọc T và ông Nguyễn Văn T tự nguyện tìm hiểu và xác lập quan hệ hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tam Vinh, huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam vào năm 2015 nên hôn nhân của họ là hợp pháp. Xét thấy, trong thời gian chung sống bà T và ông T1 phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do ông T1 sử dụng ma túy và có hành vi bạo lực với bà T. Từ đó, đời sống vợ chồng không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Hiện tại, vợ chồng sống ly thân, bà T xác định không còn tình cảm với ông T1 và cương quyết xin ly hôn. Trong quá trình giải quyết, Tòa án nhiều lần triệu tập nhưng ông T1 chỉ tham gia một lần, điều đó chứng tỏ ông T1 không tôn trọng, không tha thiết việc hàn gắn quan hệ hôn nhân. Xét thấy, mâu thuẫn giữa bà T và ông T1 đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn bà Huỳnh Thị Ngọc T là đúng quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
Về nuôi con chung: bà T và ông T1 có 03 con chung là Nguyễn Hoàng Tường Vi, sinh ngày 26/11/2012, Nguyễn Hoàng Anh Thư, sinh ngày 12/11/2016 và Nguyễn Võ Thiên Phúc, sinh ngày 13/01/2020. Bà T có nguyện vọng nuôi cả ba con và yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi mỗi con 1.500.000 đồng/tháng. Xét thấy, trong 03 người con của bà T, ông T1 thì Nguyễn Hoàng Tường Vi và Nguyễn Hoàng Anh Thư có nguyện vọng ở với mẹ, còn Nguyễn Võ Thiên Phúc thì đang ở độ tuổi mẫu giáo cần sự chăm sóc, dạy dỗ của mẹ và hiện nay các con đang sinh sống cùng với bà T, có chỗ ăn ở, học hành ổn định. Vì vậy, giao các con cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng, ông T1 có nghĩa vụ cấp dưỡng là đảm bảo quyền lợi mọi mặt của con, đúng với quy định của pháp luật. Về mức cấp dưỡng nuôi con: bà T yêu cầu ông T1 cấp dưỡng mỗi con 1.500.000 đồng/tháng là không cao so với quy định của pháp luật nên chấp nhận.
Về chia tài sản chung, nợ chung: không có, không yêu cầu giải quyết.
Về án phí: bàT phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, ông T1 phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên!
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 271 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các Điều 56, 58, 81, 82, 83 và 110 Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ vào Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị Ngọc T.
Về hôn nhân: cho bà Huỳnh Thị Ngọc T và ông Nguyễn Văn T ly hôn.
Về nuôi con chung: giao các con Nguyễn Hoàng Tường V, sinh ngày 26/11/2012, Nguyễn Hoàng Anh Th, sinh ngày 12/11/2016 và Nguyễn Võ Thiên P, sinh ngày 13/01/2020 cho bà Huỳnh Thị Ngọc T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi các con thành niên đủ 18 tuổi. Ông Nguyễn Văn T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung, mỗi con 1.500.000 (Một triệu năm trăm nghìn) đồng/tháng cho đến khi các con thành niên đủ 18 tuổi.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án đối với khoản tiền cấp dưỡng nói trên, nếu bên phải thi hành án không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ thì hàng tháng còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Về chia tài sản chung, nợ chung: không có, không yêu cầu giải quyết.
Về án phí: Bà Huỳnh Thị Ngọc T phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm được trừ vào số tiền tạm ứng án phí bàT đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0018101, ngày 28 tháng 02 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam. Ông Nguyễn Văn T phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí cấp dưỡng nuôi con chung.
Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (20/5/2025); bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏaT1 thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - TAND tỉnh Quảng Nam; - VKSND huyện Phú Ninh; - THADS huyện Phú Ninh; - UBND thị trấn Phú Thịnh; - Lưu hồ sơ vụ án, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (Đã ký) Lê Trung Thành |