vanban.org

Bản án 70/2025/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Đoàn Thị D. Buộc ông Võ Văn Ng và bà Phan Kiều D liên đới nghĩa vụ trả cho bà Đoàn Thị D số tiền nợ vay là 700.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự. Án phí dân sự sơ…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "vay"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Đoàn Thị D. Buộc ông Võ Văn Ng và bà Phan Kiều D liên đới nghĩa vụ trả cho bà Đoàn Thị D số tiền nợ vay là 700.
  • Căn cứ chính? Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ TÂN
TỈNH CÀ MAU
—————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 70/2025/DS-ST
Ngày 04-4-2025
V/v tranh chấp hợp đồng vay tài
sản.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Văn Thị Vẹn.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Ngọc Sơn

Ông Trần Văn Giang

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Bảo Trân là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau tham gia phiên toà: Bà Võ Thúy Nhị - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 575/2024/TLST-DS, ngày 15 tháng 11 năm 2024, về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 65/2025/QĐXXST-DS, ngày 04 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Đoàn Thị D, sinh năm 1979 (có mặt)

Địa chỉ: Ấp V, xã T, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.

- Bị đơn:

1. Ông Võ Văn Ng (vắng mặt)

2. Bà Phan Kiều D (vắng mặt)

Cùng địa chỉ: Ấp T, xã V, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 04 tháng 11 năm 2024 cùng các văn bản khác kèm theo và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Đoàn Thị D trình bày:

Vào ngày 22/8/2023 âm lịch bà có cho ông Võ Văn Ng và bà Phan Kiều D vay 400.000.000 đồng, khi vay có thỏa thuận lãi suất 1,66%/tháng. Ông Võ Văn Ng tự viết biên nhận nợ ngày 22/8/2023 âm lịch và ký tên vào biên nhận, theo biên nhận nợ không thỏa thuận lãi suất và thời gian trả nợ.

Vào ngày 25/12/2023 âm lịch bà cho ông Võ Văn Ng và bà Phan Kiều D vay 300.000.000 đồng, khi vay có thỏa thuận lãi suất 1,66%/tháng. Ông Võ Văn Ng tự viết biên nhận nợ ngày 25/12/2023 âm lịch và ký tên vào biên nhận, theo biên nhận nợ không thỏa thuận lãi suất và thời gian trả nợ. Tổng cộng hai lần vay, bà D và ông Ng còn nợ 700.000.000 đồng, bà đã yêu cầu nhiều lần nhưng bị đơn không trả số tiền trên. Khi vay, bà D không trực tiếp đến nhận tiền nhưng bà D có biết việc ông Ng vay tiền về để làm kinh tế chung trong gia đình. Nay bà yêu cầu ông Võ Văn Ng và bà Phan Kiều D trả cho bà 700.000.000 đồng tiền nợ vay.

Ông Võ Văn Ng và bà Phan Kiều D đã được triệu tập hợp lệ tham gia tố tụng nhiều lần nhưng đều vắng mặt, không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau: Về tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, người tham gia tố tụng thực hiện đúng quy định của pháp luật. Về nội dung, Căn cứ Điều 463 và 466 của Bộ luật dân sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Đề nghị Hội đồng xét xử, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Đoàn Thị D, buộc bà Phan Kiều D và ông Võ Văn Ng phải trả cho bà D số tiền 700.000.000 đồng. Án phí dân sự sơ thẩm, buộc ông Ng và bà D phải chịu theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng: Bà Đoàn Thị D khởi kiện bà Phan Kiều D và ông Võ Văn Ng yêu cầu trả số tiền nợ vay nên đây là quan hệ tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản” là tranh chấp về dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn bà Phan Kiều D và ông Võ Văn Ng cư trú tại huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Bà Phan Kiều D và ông Võ Văn Ng đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai tham gia phiên tòa sơ thẩm nhưng vắng mặt không lý do, do đó Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự là đúng theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[3] Xét về nội dung tranh chấp: Bà Đoàn Thị D khởi kiện yêu cầu bà Phan Kiều D và ông Võ Văn Ng trả 700.000.000 đồng tiền nợ vay, để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện bà Đoàn Thị D cung cấp hai biên nhận nợ, biên nhận thứ nhất có nội dung “ Hôm nay ngày 22/8/2023 AL, tôi tên Võ Văn Ng, sinh năm 1987 tôi có mượng chế Đoàn Thị D số tiền 400.000.000 (bốn trăm triệu đồng)” biên nhận thứ hai có nội dung: “Hôm nay ngày 25/12/2023 tôi tên Võ Văn Ng ở Ấp T, xã V, huyện Phú Tân, CM sinh năm 1987 có hỏi tiền của Đoàn Thị D số tiền 300.000.000 (ba trăm triệu đồng)” cả hai biên nhận ông Võ Văn Ng đều ký tên. Từ những chứng cứ trên, chứng minh ông Ng có vay của bà D hai lần là 700.000.000 đồng, việc vay nợ không xác định thời gian trả nợ cụ thể, bà D có yêu cầu ông Ng, bà D trả nợ nhiều lần nhưng ông Ng và bà D không trả số nợ trên, ông Ng, bà D đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ đối với nguyên đơn. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập ông Ng tham gia tố tụng nhiều lần nhưng ông Ng đều vắng mặt và không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Do đó, căn cứ vào các tài liệu chứng cứ mà nguyên đơn cung cấp, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà Đoàn Thị D, buộc ông Võ Văn Ng trả cho bà Đoàn Thị D 700.000.000 đồng. Bà Đoàn Thị D không yêu cầu trả lãi nên không đặt ra xem xét.

[4] Bà Phan Kiều D là vợ ông Võ Văn Ng, việc ông Ng vay tiền của bà D thực hiện trong thời kỳ hôn nhân, bà D cũng không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của bà Đoàn Thị D. Do đó, Hội đồng xét xử xem xét buộc bà Phan Kiều D liên đới nghĩa vụ cùng ông Võ Văn Ng trả cho bà Đoàn Thị D 700.000.000 đồng tiền nợ vay là có căn cứ.

[5] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân là có căn cứ chấp nhận.

[6] Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Do toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bà Đoàn Thị D không phải chịu án phí và được hoàn lại tiền tạm ứng án phí đã nộp, ông Võ Văn Ng và bà Phan Thị D phải chịu án phí theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Áp dụng các điều 463, 466, 469 của Bộ luật dân sự.

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Đoàn Thị D. Buộc ông Võ Văn Ng và bà Phan Kiều D liên đới nghĩa vụ trả cho bà Đoàn Thị D số tiền nợ vay là 700.000.000 (bảy trăm triệu) đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.

2. Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch, ông Võ Văn Ng và bà Phan Kiều D phải chịu 32.000.000 (ba mươi hai triệu) đồng. Bà Đoàn Thị D đã nộp tiền tạm ứng án phí là 16.000.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0003540 ngày 15/11/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau nay được hoàn lại toàn bộ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ