- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Văn Đ- Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 107 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 70/2024/HS-ST Ngày 20-3-2024 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Đào Thị Hồng Phương
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Tùng
Bà Hà Thị Mão
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ngọc Loan – Thư ký Toà án nhân dân Quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Đoàn Quảng Hưng - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 3 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 68/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 3 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 162/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 3 năm 2024 đối với bị cáo:
Lê Văn Đ, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1986 (khai sinh: Nguyễn Văn Đ, sinh ngày 12 tháng 5 năm 1986) tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Thôn H, xã A, huyện A1, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T và bà Ngô Thị N; có vợ là Tống Thị H và 03 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 11/HSST ngày 30/03/2004, Tòa án nhân dân huyện An Dương xử phạt 09 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” (đã xóa án tích); tạm giữ từ ngày 06/11/2023, chuyển tạm giam từ ngày 12/11/2023; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ ngày 06/11/2023, Lê Văn Đ điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh, BKS 15C1-288.27 đi đến khu vực ngõ 30 đường Trần Nguyên Hãn, quận Lê Chân, Hải Phòng để tìm mua ma túy nhưng không mua được. Sau đó Đồng ra quán nước thì có người đàn ông không quen biết hỏi có mua ma túy không thì người này mua hộ. Đ đưa cho người đàn ông 200.000 đồng để mua ma túy rồi điều khiển xe mô tô BKS: 15C1-288.27 đi theo xe mô tô của người này đến khu vực trước cửa ngõ 47 đường Nguyễn Trãi, phường Máy Tơ, quận Ngô Quyền, Hải Phòng. Người đàn ông trên dựng xe mô tô ở đầu ngõ rồi đi bộ vào trong ngõ 47 đường Nguyễn Trãi, một lúc sau quay lại và đưa cho Đồng 02 gói ma túy Heroine. Đ kiểm tra đúng loại ma túy cần mua rồi chuẩn bị điều khiển xe mô tô đi thì bị lực lượng Công an phường Máy Tơ phát hiện, bắt quả tang, thu giữ: 02 gói giấy màu trắng kích thước khoảng 1x2cm chứa chất bột trắng trong túi quần phía sau bên trái Đồng đang mặc và 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh, BKS: 15C1-288.27.
Tại Kết luận giám định số 894/KL-KTHS ngày 09/11/2023 của Phòng Kỹ thuật Hình sự - Công an thành phố Hải Phòng kết luận: Chất bột màu trắng gửi giám định là ma tuý, có khối lượng 0,14 gam, loại: Heroine (Heroin).
Tại Cáo trạng số 72/CT-VKSNQ ngày 04 tháng 3 năm 2024, Viện Kiểm sát nhân dân Quận Ngô Quyền truy tố bị cáo Lê Văn Đ về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận Ngô Quyền luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 18 tháng đến 24 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 bì niêm phong số 894MT/PC09 chứa 0,09 gam chất ma túy Heroin, vỏ bao bì còn lại sau giám định;
- Về chiếc xe máy biển kiểm soát: 15C1-288.27, quá trình điều tra, xác minh số khung, số máy là số nguyên thủy, không bị tẩy xóa hoặc sữa chữa các ký tự; đăng ký xe mang tên Tống Thị H là vợ của Đ. Chị H không biết việc Đ lấy xe đi mua ma túy nên Cơ quan điều tra đã ra Quyết định số 78/QĐ-XLVC ngày 06/12/2023 xử lý trả lại cho chị H là phù hợp với quy định của pháp luật.
- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi như nội dung nêu trên và bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận Ngô Quyền, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân Quận Ngô Quyền, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Về tội danh:
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa và tại cơ quan điều tra phù hợp với nhau, phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang được lập vào hồi 11 giờ 50 phút ngày 06/11/2023, phù hợp với nội dung kết luận giám định cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử xét có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 06/11/2023, tại khu vực đầu ngõ 47 đường Nguyễn Trãi, phường Máy Tơ, quận Ngô Quyền, Hải Phòng, bị cáo Lê Văn Đ đã có hành vi cất giấu bất hợp pháp 0,14 gam Heroine để sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về ma túy, gây mất trật tự, trị an ở địa phương. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của bị cáo đã có đủ yếu tố cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
- Về hình phạt:
Xét về nhân thân: Bị cáo có 01 tiền án năm 2004, thời điểm phạm tội năm 2003, bị cáo từ đủ 16 tuổi dưới 18 tuổi, bị kết án về tội ít nghiêm trọng nên căn cứ điểm b khoản 1 Điều 107 Bộ luật Hình sự, bị cáo được coi là không có án tích. Như vậy bị cáo có nhân thân xấu.
Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình giải quyết vụ án, bị cáo thành khẩn khai báo nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Tội phạm ma túy đang có diễn biễn phức tạp và chiều hướng gia tăng. Ma túy đã gây tác hại to lớn đối với con người và cộng đồng, là nguyên nhân làm mất trật tự, an toàn xã hội, là nguồn gốc phát sinh các tệ nạn xã hội, gia tăng các loại tội phạm nên hình phạt đối với tội phạm ma túy cần phải nghiêm khắc mới đáp ứng được yêu cầu đấu tranh, phòng chống loại tội phạm này. Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi, xét tội phạm mà bị cáo thực hiện là nghiêm trọng. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.
Theo khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự, ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Xét bị cáo không nghề nghiệp, hoàn cảnh gia đình khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng:
Số ma túy thu giữ của bị cáo sau khi giám định còn lại, liên quan đến tội phạm, thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy theo điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Về án phí:
Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- Những vấn đề khác:
Về chiếc xe máy biển kiểm soát: 15C1-288.27, quá trình điều tra, xác minh số khung, số máy là số nguyên thủy, không bị tẩy xóa hoặc sữa chữa các ký tự; đăng ký xe mang tên Tống Thị H là vợ của Đồng. Chị H không biết việc Đồng lấy xe đi mua ma túy nên Cơ quan điều tra đã ra Quyết định số 78/QĐ-XLVC ngày 06/12/2023 xử lý trả lại cho chị H. Hội đồng xét xử xét thấy, việc xử lý của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Ngô Quyền phù hợp với quy định của pháp luật.
Đối với người đàn ông bán ma túy cho bị cáo, không xác định được lai lịch, địa chỉ nên không có căn cứ xử lý.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Lê Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Lê Văn Đ 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 06 tháng 11 năm 2023.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự,
Tịch thu tiêu hủy: 01 bì niêm phong số 894MT/PC09 chứa 0,09 gam chất ma tuý Heroin, vỏ bao bì còn lại sau giám định.
(Theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 05/3/2024 tại Chi Cục Thi hành án dân sự Quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng).
Về án phí: Căn cứ các điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội, bị cáo Lê Văn Đ phải chịu 200.000 đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Căn cứ các điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo Lê Văn Đ có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND Quận Ngô Quyền; - VKSND TP. Hải Phòng; - TAND TP. Hải Phòng; - CQCSĐT- Công an Quận Ngô Quyền; - CQTHAHS- Công an Quận Ngô Quyền; - Công an Quận Ngô Quyền; - Sở Tư pháp TP. Hải Phòng; - Chi cục THA DS Quận Ngô Quyền; - Trại tạm giam- Công an thành phố Hải Phòng; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đào Thị Hồng Phƣơng |