- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án hình sự - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHIÊM HÓA TỈNH TUYÊN QUANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 70/2024/HS-ST Ngày 23-12-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHIÊM HÓA, TỈNH TUYÊN QUANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Mạnh Tuấn.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Hà Phúc Tuyên;
2. Bà Trần Thị Hường.
- Thư ký phiên tòa: Bà Bàn Thị Bích Duyên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Minh Tú - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Chiêm Hóa, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm trực T công khai vụ án hình sự thụ lý số 62/2024/TLST-HS, ngày 26 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 68/2024/QĐXXST-HS, ngày 09 tháng 12 năm 2024, đối với các bị cáo:
1. NGUYỄN THỊ T, sinh ngày 03/01/1965, tại huyện Bắc Q, tỉnh Hà Giang; nơi cư trú: Thôn Minh K, xã Kim N, huyện Bắc Q, tỉnh Hà Giang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 7/10; giới tính: Nữ; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; bố đẻ Nguyễn Đình S (đã chết), mẹ đẻ Nguyễn Thị M, sinh năm 1941; chồng là Hà Thanh H (đã chết) và có 03 con, lớn sinh năm 1989, nhỏ sinh năm 1995;
- Tiền án, tiền sự: Không;
- Nhân thân:
+ Ngày 27/9/2007 bị Tòa án nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang xử phạt 06 tháng tù, cho hưởng án treo về tội đánh bạc (tại Bản án số 42/2007/HSST);
+ Ngày 13/6/2008 bị Tòa án nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang xử phạt 36 tháng tù về tội mua bán trái phép chất ma túy (tại Bản án số 20/2008/HSST);
+ Ngày 09/5/2023, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội đánh bạc. Ngày 20/9/2024, Tòa án nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang xử phạt 10 tháng tù về tội đánh bạc (tại Bản án số 60/2024/HS-ST);
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/6/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Tuyên Quang. Có mặt.
2. SẰM VĂN TH, sinh ngày 04/4/2000, tại huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang;
Nơi cư trú: Thôn Nà N, xã Th M, huyện Chiêm H, tỉnh Tuyên Quang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Tày; tôn giáo: Không; bố đẻ: Sằm Văn D, sinh năm 1975; mẹ đẻ: Quan Thị N, sinh năm 1979; vợ, con: Chưa có;
- Tiền án:
+ Ngày 12/3/2021 bị Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang xử phạt 09 tháng tù về tội trộm cắp tài sản (tại Bản án số 15/2021/HSST), chưa được xóa án tích;
+ Ngày 15/8/2022 bị Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy (tại Bản án số 56/2022/HS-ST), chấp hành xong hình phạt tù ngày 14/7/2023, chưa được xóa án tích;
- Tiền sự: Không;
- Nhân thân: Ngày 19/8/2020 bị Ủy ban nhân dân xã Th Mỹ, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang ra Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy;
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/6/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Tuyên Quang. Có mặt.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Quan Thanh TT, sinh năm 1993; địa chỉ: Thôn Bản C, xã Th M, huyện Chiêm H, tỉnh Tuyên Quang, vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng tháng 03/2024, bị cáo Nguyễn Thị T đang ở nhà thì thấy một người đàn ông tự giới thiệu tên là “P” không xác định được địa chỉ đến nhà T chơi. Quá trình nói chuyện, P hỏi T “mày có bán ma túy không, tao cho mày một ít”, T đồng ý. P đưa cho T 01 gói nhỏ có đặc điểm bên ngoài gói bằng hai lớp ni lông màu đen, bên trong là lớp giấy trắng có dòng kẻ, trong cùng là Heroine ở dạng chất bột vón cục màu trắng với giá 1.500.000 đồng. Sau đó, T chia gói Heroine thành 02 gói, đều có đặc điểm bên ngoài gói bằng nilong màu đen, tiếp đến là lớp giấy trắng có dòng kẻ, trong cùng là Heroine ở dạng bột vón cục màu trắng. Sau khi chia Heroine xong, T đem 01 gói Heroine cất giấu ở phía dưới tấm bê tông trước sân nhà, 01 gói Heroine còn lại, T cất giấu tại kệ gỗ kê trong nhà của bà Nguyễn Thị M (là mẹ đẻ của T), trú cùng thôn.
Khoảng 14 giờ, ngày 11/06/2024, Sằm Văn Th (đã có 01 tiền án về tội tàng trữ trái phép chất ma túy) đang ở nhà thì thấy Quan Thanh TT, sinh năm 1993, trú tại thôn Bản C xã Th M, huyện Chiêm H đến nói “Mày lấy hộ anh một cái hai trăm” (ý nhờ Th tìm mua giúp 200.000 đồng Heroine), Th đồng ý và nói “thế để em gói một trăm đi mua cho bõ công”. Sau đó, TT đưa cho Th 200.000 đồng, Th cầm tiền rồi điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển số 22FA- (là xe của Hoàng Văn Ph, sinh năm 2000, đến nhà Nguyễn Thị T mục đích mua Heroine thông qua sự giới thiệu của một người không quen biết. Khoảng 20 giờ cùng ngày, Th đi đến nhà ở của T, thấy T đang ở nhà, Th nói “má hộ con một tí”, (ý hỏi T mua Heroine), sau đó Th đặt luôn xuống bàn uống nước 300.000 đồng. T cầm tiền rồi đi lấy gói Heroine cất giấu ở phía dưới tấm bê tông đưa cho Th. Mua được Heroine, Th đi về đưa gói Heroine cho TT tại khu vực dốc bãi keo thuộc thôn Nà N, xã Th M. Nhận được Heroine, TT san gạt gói Heroine lấy phần của mình; phần còn lại TT đưa cho Th. Về đến nhà, Th lấy gói Heroine ra sử dụng hết bằng cách tiêm chích vào cơ thể. Còn TT trên đường về đến khu vực ngã 3 cầu Nà N, thuộc thôn Bản Gi, xã Th M, huyện Chiêm H thì gặp tổ công tác Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Chiêm Hóa đang làm nhiệm vụ, nghi TT có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nên tổ công tác đã yêu cầu TT dừng lại để làm việc. Quá trình làm việc, TT đã tự giác giao nộp gói Heroine trên cho tổ công tác, nguồn gốc số Heroine TT khai nhờ Th đi mua về để sử dụng. Tổ công tác đã lập biên bản sự việc và thu giữ toàn bộ vật chứng theo quy định (lúc này là 11 giờ 25 phút, ngày 12/6/2024).
Trên cơ sở lời khai của Quan Thanh TT: Ngày 13/6/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Chiêm Hóa tiến hành giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Sằm Văn Th về hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý, đồng thời tiến hành khám xét khẩn cấp người, chỗ ở, địa điểm, phương tiện đối với Nguyễn Thị T và nhà ở của bà Nguyễn Thị M (mẹ T) phát hiện, thu giữ 01 gói nhỏ có đặc điểm bên ngoài là lớp ni lông màu đen, tiếp đến là lớp giấy có dòng kẻ, trong cùng chứa chất bột vón cục màu trắng nghi là Heroine tại kệ gỗ trong nhà bà M (Bà M không biết T cất giấu Heroine ở trong nhà của mình), T khai nhận cất giấu để bán. Ngày 14/6/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Chiêm Hóa ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Nguyễn Thị T về hành vi mua bán trái phép chất ma tuý.
Tiến hành xét nghiệm tìm chất ma túy trong cơ thể đối với Sằm Văn Th và Quan Thanh TT có kết quả dương tính với chất ma túy; Nguyễn Thị T có kết quả âm tính với chất ma túy.
Tại bản kết luận giám định số 827/KL-KTHS ngày 17/6/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang kết luận: Số chất bột vón cục màu trắng thu giữ của Quan Thanh TT gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine, khối lượng 0,011 gam (Không phẩy không trăm mười một gam).
Tại bản kết luận giám định số 829/KL-KTHS ngày 17/6/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang kết luận: Số chất bột vón cục màu trắng thu giữ của Nguyễn Thị T gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine, có khối lượng 3,854 gam (Ba phẩy tám trăm năm mươi bốn gam).
Bản Cáo trạng số 64/CT-VKSCH, ngày 26 tháng 11 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự; bị cáo Sằm Văn Th về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự;
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo về tội danh, điều luật như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; bị cáo Sằm Văn Th phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng: Khoản 1, 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 35; Điều 38; Điều 56 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T từ 02 năm 06 tháng tù đến 03 năm tù. Tổng hợp với hình phạt 10 tháng tù của Bản án số 60/2024/HS-ST ngày 20/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của bản án, khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 09/5/2023 đến ngày 18/5/2023 của Bản án số 60/2024/HS-ST ngày 20/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 14/6/2024.
- Áp dụng: Điểm a khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Sằm Văn Th từ 01 năm 03 tháng tù đến 01 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 13/6/2024.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Sằm Văn Th; phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 triệu đồng đối với bị cáo Nguyễn Thị T, sung vào ngân sách Nhà nước.
- Áp dụng: Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Tịch thu tiêu, hủy số Heroine đã thu giữ của bị cáo Nguyễn Thị T và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Quan Thanh TT.
Truy thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 300.000 đồng do bị cáo T bán ma túy trái phép mà có.
- Áp dụng các Điều 136, 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và tuyên quyền kháng cáo bản án theo quy định.
Tại phiên tòa, các bị cáo tiếp tục khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, nội dung khai báo của các bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, không có tình tiết gì mới; các bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì; các bị cáo nhất trí với luận tội của đại diện Viện kiểm sát, không có ý kiến tranh luận và cũng không có ý kiến gì để bào chữa cho hành vi phạm tội của mình. Các bị cáo nói lời sau cùng, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Chiêm Hóa, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hóa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với biên bản làm việc, biên bản khám xét, kết luận giám định, cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận:
- Khoảng 20 giờ, ngày 11/06/2024, tại nhà ở của mình thuộc thôn Minh K, xã Kim N, huyện Bắc Q, tỉnh Hà Giang, Nguyễn Thị T đã có hành vi bán trái phép 01 gói Heroine cho Sằm Văn Th, với số tiền 300.000 đồng. Ngày 13/6/2024, Nguyễn Thị T còn có hành vi tàng trữ trái phép 3,854 gam Heroine nhằm mục đích để bán.
- Hồi 11 giờ 25 phút, ngày 12/6/2024, tại thôn Bản G, xã Th M, huyện Chiêm H, Sằm Văn Th (đã có 01 tiền án về tội tàng trữ trái phép chất ma túy), đã thực hiện hành vi giúp sức cho Quan Thanh TT, sinh năm 1993, trú tại thôn Bản C, xã Th M, huyện Chiêm H tàng trữ trái phép 0,011 gam Heroine mục đích để sử dụng.
Các bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Bị cáo Nguyễn Thị T đã thực hiện hành vi mua ma túy, sau đó bán 01 gói ma tuý loại Heroine cho Sằm Văn Th với số tiền 300.000 đồng và hành vi tàng trữ 3,854 gam Heroine nhằm mục đích để bán, hành vi của bị cáo T đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Đối với bị cáo Sằm Văn Th, ngày 15/8/2022 bị Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy, chưa được xóa án tích, ngày 12/6/2024 bị cáo Th có hành vi giúp sức cho Quan Thanh TT tàng trữ trái phép 0,011 gam Heroine mục đích để sử dụng, hành vi của bị cáo Th đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang truy tố các bị cáo về tội phạm nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Đối với bị cáo Nguyễn Thị T, ngày 09/5/2023, bị cáo T thực hiện hành vi phạm tội đánh bạc, ngày 20/9/2024, bị Tòa án nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang tuyên phạt 10 tháng tù về tội đánh bạc (tại Bản án số 60/2024/HS-ST). Ngày 11/6/2024, bị cáo Nguyễn Thị T thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy, tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội bị cáo chưa bị kết án về hành vi đánh bạc nêu trên nên bị cáo T không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Đối với bị cáo Sằm Văn Th có 02 tiền án, 01 tiền án ngày 15/8/2022 bị Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy (tại Bản án số 56/2022/HS-ST), là tình tiết định tội; còn có 01 tiền án, ngày 12/3/2021 bị Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa xử phạt 09 tháng tù về tội trộm cắp tài sản (tại Bản án số 15/2021/HSST), chưa được xóa án tích mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm theo quy định tại đoạn 1 điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, nên các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại đoạn 1 điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Riêng bị cáo Sằm Văn Th là người dân tộc thiểu số, cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
. Về mức hình phạt: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, gây mất trật tự trị an tại địa phương và là một trong những nguyên nhân thường gây ra các tội phạm, tệ nạn xã hội khác. Do vậy cần phải xử phạt các bị cáo mức hình phạt tù nghiêm minh tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo để cải tạo, giáo dục các bị cáo, đồng thời góp phần vào công tác đấu tranh phòng ngừa tội phạm chung. Các bị cáo Nguyễn Thị T, Sằm Văn Th đều có nhân thân xấu, bị cáo T đã 03 lần bị Tòa án kết án phạt tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Đánh bạc” vào năm 2007, 2008, 2024; bị cáo Th đã 02 lần bị Tòa án kết án phạt tù về tội “Trộm cắp tài sản” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” vào năm 2021, 2022, ngày 19/8/2020 bị Ủy ban nhân dân xã Th M, huyện Chiêm H ra Quyết định về việc áp dụng biện pháp giáo dục tại xã về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Căn cứ tính chất mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, khối lượng chất ma tuý mà các bị cáo mua bán, tàng trữ, cũng như nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng đối với các bị cáo. Hội đồng xét xử thấy mức án mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp, có căn cứ.
. Về hình phạt bổ sung: Hành vi tàng trữ trái pháp chất ma tuý của bị cáo Th nhằm mục đích sử dụng, không có mục đích vụ lợi nên không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo Th. Đối với hành vi bán trái phép chất ma tuý của bị cáo T nhằm mục đích kiếm lời, nên cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo T.
. Về vật chứng, biện pháp tư pháp: Khối lượng Heroine thu giữ của bị cáo Nguyễn Thị T và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Quan Thanh TT, Nhà nước cấm lưu hành sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với số tiền 300.000 đồng do bị cáo T bán ma túy trái phép mà có, nên cần truy thu sung vào ngân sách Nhà nước.
. Các vấn đề khác:
Đối với hành vi tàng trữ trái phép 0,011 gam Heroine của Quan Thanh TT chưa đủ định lượng để truy cứu trách nhiệm hình sự, bản thân TT không có tiền án, tiền sự nên Công an huyện Chiêm Hóa đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Quan Thanh TT và Sằm Văn Th, Công an huyện Chiêm Hóa đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với người đàn ông bán Heroine cho bị cáo Nguyễn Thị T, quá trình điều tra không xác định được tên, tuổi, địa chỉ nên không có căn cứ để xử lý.
Đối với bà Nguyễn Thị M không biết bị cáo Nguyễn Thị T cất giấu Heroine ở trong nhà của mình; anh Hoàng Văn Ph không biết Sằm Văn Th sử dụng xe mô tô của mình để đi mua ma tuý, nên Hội đồng xét xử không đề cập xử lý.
. Về án phí: Các bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm.
. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào: Khoản 1, 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 35; Điều 38; Điều 56 của Bộ luật Hình sự.
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù. Tổng hợp với hình phạt 10 (Mười) tháng tù của Bản án số 60/2024/HS-ST ngày 20/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là 03 (Ba) năm 04 (Bốn) tháng tù, khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 09/5/2023 đến ngày 18/5/2023 của Bản án số 60/2024/HS-ST ngày 20/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 14/6/2024.
Phạt tiền bị cáo Nguyễn Thị T 5.000.000đ (Năm triệu đồng) sung vào ngân sách Nhà nước.
2. Căn cứ vào: Điểm a khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
- Tuyên bố bị cáo Sằm Văn Th phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Xử phạt bị cáo Sằm Văn Th 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 13/6/2024.
3. Về vật chứng, biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
- Tịch thu, tiêu hủy: 01 bì niêm Ph còn nguyên vẹn, mặt sau các mép dán có chữ ký xác nhận của Quan Thanh TT, thành phần tham gia và 05 hình dấu của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Tuyên Quang. Mặt trước ghi tang vật vụ Quan Thanh TT, Giám định ngày 13/6/2024; 01 bì niêm Ph còn nguyên vẹn, mặt sau các mép dán có chữ ký xác nhận của Nguyễn Thị T, thành phần tham gia và 05 hình dấu của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Tuyên Quang. Mặt trước ghi tang vật vụ Nguyễn Thị T, Giám định ngày 14/6/2024.
Tình trạng vật chứng như Biên bản giao, nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Chiêm Hóa với Chi cục thi hành án dân sự huyện Chiêm Hóa, lập ngày 16/12/2024.
- Truy thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền của bị cáo Nguyễn Thị T phạm tội mà có là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng).
4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Các bị cáo Nguyễn Thị T, Sằm Văn Th mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Các bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tuyên Quang; - VKSND tỉnh Tuyên Quang; - VKSND huyện Chiêm Hóa; - Trại Tạm giam Công an tỉnh Tuyên Quang; - Công an huyện Chiêm Hóa; - Chi cục THADS huyện Chiêm Hóa; - Sở Tư pháp tỉnh Tuyên Quang; - UBND xã nơi bị cáo cư trú; - Các bị cáo; - Hồ sơ vụ án hình sự; - Lưu HS. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Hà Phúc Tuyên Trần Thị Hường | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Mạnh Tuấn THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Mạnh Tuấn |