- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tuyên bố bị cáo Bùi Văn G phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ su…"
- Tòa quyết gì? 1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bùi Văn G phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠC SƠN TỈNH HOÀ BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 70/2024/HS-ST Ngày: 19-12-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠC SƠN, TỈNH HOÀ BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Minh Giang
Các Hội thẩm nhân dân:
1.Ông Bùi Văn Tấn
2.Ông Bùi Văn Ơn
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Hảo – Thư ký Toà án nhân dân huyện Lạc Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc Sơn tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phúc - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 12 năm 2024. Tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lạc Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 66/2024/TLST-HS ngày 22 tháng 11 năm 2024; theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 70/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 12 năm 2024 đối với:
- Bị cáo: Bùi Văn G, sinh ngày 05/09/1991 tại: xã Y, huyện L, tỉnh Hòa Bình. Nơi cư trú: Xóm B, xã Y, huyện L, tỉnh Hòa Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Cao đẳng; Dân tộc: Mường; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn L, sinh năm 1966 và bà Bùi Thị K, sinh năm 1965; bị cáo có vợ là Bùi Thị H, sinh năm 1996 và có 02 con; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/10/2024 đến nay; được trích xuất, có mặt tại phiên tòa.
- Người chứng kiến:
+ Ông Quách Công L1, sinh năm 1982. Nơi cư trú: xóm V, xã X, huyện L, tỉnh Hòa Bình (vắng mặt).
+ Ông Quách Văn L2, sinh năm 1988. Nơi cư trú: xóm N, xã X, huyện L, tỉnh Hòa Bình (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Do bản thân nghiện ma túy nên khoảng 13 giờ 00 phút, ngày 04/10/2024, Bùi Văn G bắt xe khách đi ra khu vực huyện K, tỉnh Hòa Bình tìm mua ma túy để sử dụng cho bản thân. Khi đến huyện K, Bùi Văn G nhìn thấy một người đàn ông không quen biết có biểu hiện của người nghiện ma túy nên G đến gặp và hỏi mua được ma túy của người này với số tiền là 400.000đ (bốn trăm nghìn đồng). Mua được ma túy, Bùi Văn G bắt xe trở về huyện L, tỉnh Hòa Bình.
Đến khoảng 17 giờ 00 phút khi về đến khu vực xóm V, xã X, huyện L, tỉnh Hòa Bình, G xuống xe để đi tìm nơi sử dụng trái phép chất ma tuý thì bị tổ công tác của công an huyện L phối hợp với công an các xã Q, X làm nhiệm vụ tuần tra và phát hiện Bùi Văn G có biểu hiện nghi vấn hoạt động tội phạm về ma tuý, tổ công tác đã tiến hành kiểm tra người đối với Bùi Văn G thì phát hiện và thu giữ bên trong túi áo ngực bên trái mà G đang mặc có 01 (một) gói giấy bạc bên trong có chứa chất bột dạng màu trắng (G khai là ma tuý). Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ vật chứng theo quy định.
Tại kết luận giám định số 539/KL-KTHS ngày 10/10/2024 của Phòng K1 - Công an tỉnh H kết luận: Chất bột dạng cục màu trắng trong phong bì niêm phong có ghi: “Vật chứng thu giữ khi bắt quả tang Bùi Văn G, sinh năm 1991, trú tại: Xóm B, xã Y, huyện L, tỉnh Hòa Bình” gửi giám định có tổng khối lượng 0,31g (không phẩy ba mươi mốt gam) là ma túy, loại Heroine.
Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng:
- 0,31g (không phẩy ba mươi mốt gam) chất ma tuý, loại Heroine thu giữ khi bắt quả tang Bùi Văn G. Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc Sơn chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình bảo quản, chờ xử lý theo quy định.
Quá trình điều tra, Bùi Văn G đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi của mình, lời khai phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.
Đối với người đàn ông mà Bùi Văn G khai nhận đã mua ma tuý tại khu vực khu vực huyện K, tỉnh Hòa Bình, quá trình điều tra không xác định được tên, tuổi, địa chỉ đặc điểm nhận dạng. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L tiếp tục xác minh làm rõ, khi có căn cứ sẽ xử lý sau.
Tại bản Cáo trạng số 69/CT-VKS-LS ngày 22/11/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc Sơn đã truy tố Bùi Văn G về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Thực hành quyền công tố tại phiên toà, đại diện VKSND huyện Lạc Sơn, sau khi xem xét, đánh giá toàn bộ nội dung vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; trình bày quan điểm và luận tội: Giữ nguyên cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, tuyên bố bị cáo Bùi Văn G phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”; Về hình phạt chính: Đề nghị căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Bùi Văn G từ 21 -24 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; Về xử lý vật chứng: Đề nghị HĐXX căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên tịch thu để xuất huỷ đối với khối lượng chất ma túy, loại Heroine cùng toàn bộ vỏ bao gói còn lại sau giám định; bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Bị cáo Bùi Văn G đồng ý với tội danh và điều luật mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc Sơn truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đều hợp pháp và đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy lời khai nhận của bị cáo có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa phù hợp với các chứng cứ khác như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 04/10/2024, biên bản thu giữ và niêm phong vật chứng, biên bản mở niêm phong vật chứng và bản kết luận giám định số 539/KL-KTHS ngày 10/10/2024 của phòng K1 Công an tỉnh H; lời khai của người chứng kiến cùng các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở khẳng định: Vào hồi 17 giờ 00 phút ngày 04/10/2024 tại đoạn đường thuộc xóm V, xã X, huyện L, tỉnh Hòa Bình, Bùi Văn G đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,31g (không phẩy ba mươi mốt gam) chất ma tuý, loại Heroine bên trong túi áo ngực bên trái mà bị cáo đang mặc với mục đích để sử dụng cho bản thân, ngoài ra không có mục đích nào khác. Vì vậy, việc bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc Sơn truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Đồng thời có đủ cơ sở kết luận bị cáo Bùi Văn G phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Hành vi của bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm hại đến chính sách về quản lý chất gây nghiện của Nhà nước. Xâm phạm trật tự an toàn xã hội; là mầm mống phát sinh các tội, tệ nạn xã hội khác. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đủ khả năng nhận thức được tính chất, mức độ sai trái do hành vi gây ra. Song vì là đối tượng nghiện ma túy nên bị cáo đã cố ý tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng. Do vậy, bị cáo Bùi Văn G phải hoàn toàn chịu trách nhiệm hình sự về hành vi đã thực hiện.
Xét nhân thân: Trước khi phạm tội bị cáo Bùi Văn G có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Bùi Văn G không có tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo là người dân tộc thiểu số (dân tộc Mường) sinh sống ở vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; bị cáo có người thân có công với cách mạng. Đây là các tình tiết cần xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự .
Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Bùi Văn G ngày 04/10/2024 tại khu vực huyện K, tỉnh Hòa Bình. Xét thấy chưa có cơ sở xem xét, xử lý, do đó Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
Cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và tình tiết cụ thể của vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải có một hình phạt nghiêm khắc tương xứng với tính chất, hành vi mà bị cáo đã thực hiện. Do đó, việc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo cũng như đáp ứng mục đích đấu tranh phòng ngừa tội phạm trên địa bàn là cần thiết.
Ngoài ra, theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự, bị cáo còn có thể bị phạt bổ sung. Song xem xét cụ thể trường hợp của bị cáo, xét thấy việc áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là không có tính khả thi. Do đó, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Bùi Văn G
Về vật chứng vụ án: Xét thấy cần tịch thu tiêu hủy đối với 01 (một) phong bì niêm phong nguyên vẹn mẫu giám định chất ma túy của phòng K1 Công an tỉnh H mang tên đối tượng Bùi Văn G bên trong chứa mẫu chất ma túy, loại Heroine cùng toàn bộ vỏ bao gói còn lại sau giám định.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. [10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự:
1.1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bùi Văn G phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
1.2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Bùi Văn G 21 (hai mươi mốt) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ 04/10/2024.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên tịch thu để xuất huỷ đối với: 01 (một) phong bì niêm phong nguyên vẹn mẫu giám định chất ma túy của phòng K1 Công an tỉnh H. Trên phong bì ghi mẫu vật còn lại sau khi giám định. Vụ Bùi Văn G, sinh năm 1991 – Có hành vi phạm tội về ma túy xảy ra ngày 04/10/2024 tại xã X, huyện L, tỉnh Hòa Bình. Mép dán có dấu và chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong.
(Vật chứng nêu trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lạc Sơn, tình trạng, đặc điểm vật chứng được ghi trong Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số:14/THA ngày 25/11/2024 giữa bên giao Công an huyện L, bên nhận Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lạc Sơn).
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo Bùi Văn G phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Căn cứ khoản 1 Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng Hình sự, bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận : -TAND tỉnh Hòa Bình (b/c); -VKSND tỉnh Hòa Bình; - VKSND huyện Lạc Sơn; - Công an huyện Lạc Sơn; - Nhà tạm giữ công an huyện Lạc Sơn; - Chi cục THADS huyện Lạc Sơn; - Sở Tư pháp tỉnh Hòa Bình; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Minh Giang |