vanban.org

Bản án 70/2024/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND TP. Bến Tre, tỉnh Bến Tre Tuyên án 22/05/2024 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Ngô Quý K đối với ông Trần Minh M về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản, cụ thể: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Ngô Quý K - Trần Minh M"
  • Tòa quyết gì? định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE – TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 70/2024/DS-ST

Ngày: 22/05/2024

V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE – TỈNH BẾN TRE

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hoàng Út Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Văn Hưng 2. Ông Trịnh Ngọc Hồng - Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Cẩm Trang – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre Ngày 22 tháng 5 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 84/2024/TLST-DS ngày 12 tháng 3 năm 2024 về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 80/2024/QĐXXST-DS ngày 22 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 99/2024/QĐXXST-DS ngày 07 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự: 1. Nguyên đơn: Ông Ngô Quý K, sinh năm: 1941; Nơi cư trú: Số 450C1, khu phố B, Phường S, thành phố BT, tỉnh Bến Tre. Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị Phương L, sinh năm: 2001 là người đại diện theo ủy quyền (Theo văn bản ủy quyền ngày 01/3/2024); Địa chỉ liên hệ: Số 33/3C, đường T, xã M, thành phố BT, tỉnh Bến Tre. (Có mặt) 2. Bị đơn: Ông Trần Minh M, sinh năm: 1975;

Nơi cư trú: Số 128C, Khu phố B, Phường N, thành phố BT, tỉnh Bến Tre. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện; bản tự khai và các văn bản, tài liệu chứng cứ cung cấp cho Tòa án cũng như tại phiên toà, người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn ông Ngô Quý K là bà Huỳnh Thị Phương L trình bày: Do có quan hệ quen biết nên vào ngày 16/6/2023, ông Ngô Quý K có cho ông Trần Minh M vay số tiền 7.000.000 đồng, không tính lãi suất, thời hạn vay là 4 tháng kể từ ngày 16/6/2023 đến ngày 16/10/2023. Đến thời hạn trả tiền vay, mặc dù ông K đã nhiều yêu cầu ông M trả tiền nhưng ông M cứ hứa hẹn nhiều lần mà không thực hiện. Vì vậy, ông Ngô Quý K khởi kiện yêu cầu ông Trần Minh M trả số tiền đã vay là 7.000.000 đồng và tiền lãi suất với mức lãi suất 0,83%/tháng tính từ ngày 16/10/2023 đến ngày xét xử sơ thẩm ngày 22/5/2024 là: 7.000.000 đồng x (7 tháng 06 ngày) x 0,83%/tháng = 418.000 đồng. Tổng cộng: 7.418.000 đồng. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập hợp lệ ông Trần Minh M đến để tiến hành hòa giải và tham gia phiên tòa nhưng ông M vắng mặt và không có trình bày ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào lời trình bày của người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định: [1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Ông Ngô Quý K khởi kiện yêu cầu ông Trần Minh M trả số tiền đã vay nên xác định quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo quy định tại Khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn cư trú tại thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre nên vụ án này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre theo quy định tại điểm a Khoản 1 Điều 35 và điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. [2] Về tố tụng: Ông Trần Minh M là bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng ông M vắng mặt nên Tòa án đưa vụ án ra xét xử vắng mặt ông M theo quy định tại Khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự. [3] Xét nội dung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Đối với số tiền vốn gốc: Theo tờ xác nhận mượn tiền ngày 16/6/2023 có chữ ký, chữ viết họ và tên của ông Trần Minh M thể hiện ông M có mượn của ông Ngô Quý K số tiền 7.000.000 đồng, thời hạn mượn là 4 tháng và không tính lãi suất, ông M cam kết đến ngày 16/10/2023 sẽ trả tiền cho ông K. Xét thấy, theo tờ xác nhận mượn tiền ngày 16/6/2023 có chữ ký, chữ viết họ và tên của ông Trần Minh M thể hiện ông M có vay của ông K số tiền 7.000.000 đồng, đồng thời Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án để ông M biết yêu cầu khởi kiện của ông K và Tòa án đã nhiều lần triệu tập ông M để tham gia phiên hòa giải và phiên tòa nhưng ông M vắng mặt và không có lời trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của ông K thể hiện ông M đã thừa nhận nợ và đồng ý theo yêu cầu của ông K. Do đó, ông K khởi kiện yêu cầu ông M trả số tiền nợ gốc đã vay là 7.000.000 đồng là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. [3.2] Đối với số tiền lãi suất: Ông Ngô Quý K yêu cầu ông Trần Minh M trả tiền lãi suất với mức lãi suất 0,83%/tháng tính từ ngày 16/10/2023 (ngày ông M cam kết trả tiền cho ông K), mức lãi suất ông K yêu cầu là phù hợp với quy định tại Khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự và thời điểm ông K yêu cầu tính lãi suất là phù hợp với quy định tại Điều 357 Bộ luật Dân sự nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Theo đó lãi suất từ ngày 16/10/2023 tính đến ngày xét xử sơ thẩm là ngày 22/5/2024 thì ông M phải trả cho ông K số tiền lãi suất như sau: 7.000.000 đồng x 0,83%/tháng x (7 tháng 06 ngày) = 418.000 đồng. [3.3] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Ngô Quý K, buộc ông Trần Minh M có trách nhiệm trả cho ông Ngô Quý K tổng số tiền 7.418.000 đồng, bao gồm: 7.000.000 đồng tiền vốn gốc và 418.000 đồng tiền lãi. [4] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của ông Ngô Quý K được chấp nhận nên ông Trần Minh M phải nộp án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 7.418.000 đồng x 5% = 371.000 đồng. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Khoản 3 Điều 26, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39, các Điều 147, 227, 228, 271 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Áp dụng các Điều 280, 357, 463, 466, 468 và 470 Bộ luật Dân sự năm 2015; Áp dụng Điều 26 Nghị quyết số 326/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Tuyên xử: 3. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Ngô Quý K đối với ông Trần Minh M về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản, cụ thể: Buộc ông Trần Minh M có trách nhiệm trả cho ông Ngô Quý K số tiền 7.418.000 (Bảy triệu, bốn trăm mười tám nghìn) đồng. Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. 2. Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch ông Trần Minh M phải nộp là 371.000 (Ba trăm bảy mươi mốt nghìn) đồng. “Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”. 3. Về quyền kháng cáo: Ông Ngô Quý K được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với ông Trần Minh M vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Cỡ chữ