vanban.org

Bản án 70/2024/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên: Chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng N.

Cụ thể tuyên: Buộc ông Nguyễn Văn Dũng E và bà Nguyễn Thị N phải có nghĩa vụ liên đới trả cho Ngân hàng N (do Chi nhánh huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre đại diện nhận) số tiền tính đến ngày 27/6/2024 là: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Tranh chấp giữa ngân hàng N và ông Nguyễn Văn Dũng E"
  • Tòa quyết gì? Tuyên: Chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng N.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 274 Bộ luật Dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MỎ CÀY NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BẾN TRE
Bản án số: 70/2024/DS-ST
Ngày: 27-6-2024
”V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY NAM - TỈNH BẾN TRE

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thúy Hằng

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Trần Châu Phương

2/ Bà Mai Thị Nhặc

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoàng Thu Thảo – Thư ký Tòa án

nhân dân huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre

tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Lanh – Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 6 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 65/2024/TLST – DS, ngày 18/3/2024, về: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 212/2024/QĐXX – ST, ngày 20/5/2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng N. Địa chỉ: số 2 đường L, phường T, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng của nguyên đơn: Bà Lê Thị Kiều O – Trưởng phòng khách hàng Chi nhánh huyện Mỏ Cày Nam. Địa chỉ: khu phố A, thị trấn M, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre.

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn Dũng E, sinh năm 1970; Địa chỉ cư trú: ấp B, xã H, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1975; Địa chỉ cư trú: ấp B, xã H, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre.

Bà Oanh, ông Dũng E, bà N vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện đề ngày 18/01/2024 của nguyên đơn là Ngân hàng N (sau đây gọi tắt là Ngân hàng) yêu cầu:

1. Buộc ông Nguyễn Văn Dũng E và bà Nguyễn Thị N phải liên đới trả cho Ngân hàng N (đại diện là Ngân hàng N – chi nhánh huyện Mỏ Cày Nam Bến Tre) số tiền tạm tính đến ngày 15/01/2024 là 208.677.890 đồng, bao gồm:

- Dư nợ gốc: 200.000.000 đồng

- Nợ lãi: 8.677.890 đồng

2. Buộc ông Nguyễn Văn Dũng E và bà Nguyễn Thị N cùng liên đới tiếp tục trả lãi theo hợp đồng tín dụng trên số nợ gốc thực tế từ ngày 16/01/2024 cho đến ngày thanh toán hết nợ.

- Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là bà Lê Thị Kiều O trình bày trong quá trình tố tụng:

Tính đến ngày 27/6/2024, nợ gốc và lãi như sau:

- Dư nợ gốc: 200.000.000 đồng

- Nợ lãi: 14.135.424 đồng

Tổng cộng: 214.135.424 đồng.

Nay yêu cầu ông Dũng E, bà N trả số tiền trên. Đồng thời tiếp tục chịu lãi vay từ ngày tiếp theo cho đến khi trả tất nợ vay tại Ngân hàng.

Lý do yêu cầu: Ông Dũng E, bà N có vay của Ngân hàng tại chi nhánh huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre theo hợp đồng tín dụng số 7103-LAV-202002393 ngày 27/7/2020 và Hợp đồng sửa đổi, bổ sung Hợp đồng tín dụng số 2021.01/HĐSĐ, BS HĐTD, ngày 09/12/2021. Cụ thể như sau:

+ Số tiền vay: 200.000.000 đồng.

+ Kỳ trả nợ ngày 09/12/2022 trả nợ gốc.

+ Mục đích vay để chăn nuôi;

+ Thời hạn vay 12 tháng;

+ Lãi suất vay 07%/năm, áp dụng lãi suất thả nổi.

+ Lãi suất quá hạn được tính như sau: 150% lãi suất vay đã thoả thuận.

+ Khách hàng có nộp cho Ngân hàng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo giấy cam kết thực hiện biện pháp bảo đảm bằng tài sản ngày 24/7/2020.

Quá trình vay vốn, ông Dũng E, bà N không thực hiện đúng thỏa thuận thanh toán cho Ngân hàng. Ngân hàng thông báo, yêu cầu ông Dũng E, bà N thanh toán nhiều lần nhưng không thực hiện, vi phạm hợp đồng đã ký, ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của Ngân hàng nên Ngân hàng khởi kiện.

- Bị đơn là ông Nguyễn Văn Dũng E và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị N vắng mặt theo giấy triệu tập của Tòa án, không lấy được lời khai nên không có lời trình bày.

- Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Nam phát biểu cho rằng:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán chủ tọa phiên tòa trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư ký cũng như những người tham gia tố tụng nghiêm túc thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ của mình được Bộ luật tố tụng dân sự quy định. Đại diện nguyên đơn có đơn xin vắng; bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt không lý do.

Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Cụ thể: Buộc ông Nguyễn Văn Dũng E và bà Nguyễn Thị N phải liên đới trả cho Ngân hàng số tiền 214.135.424 đồng (vốn, lãi tính đến ngày 27/6/2024) và tiếp tục tính lãi theo thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng đã ký kể từ ngày tiếp theo đến khi trả tất nợ cho Ngân hàng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà. Nghe vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Nam trình bày quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự và nội dung giải quyết vụ án. Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về áp dụng pháp luật tố tụng:

Căn cứ vào đơn khởi kiện của Ngân hàng N (Viết tắt là Ngân hàng), Hội đồng xét xử xác định vụ án có quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”; Trong đó: Xác định nguyên đơn là Ngân hàng N (Người đại diện theo ủy quyền là bà Lê Thị Kiều O); bị đơn là ông Nguyễn Văn Dũng E; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị N; Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 68 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Đối với việc vắng mặt của bà Lê Thị Kiều O có đơn xin vắng, có lý do; ông Nguyễn Văn Dũng E và bà Nguyễn Thị N đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa, không có đơn xin vắng nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt là đúng quy định tại khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2]. Về nội dung giải quyết vụ án:

Xét yêu cầu của Ngân hàng thấy rằng:

Căn cứ hợp đồng tín dụng số 7103-LAV-202002393 ngày 27/7/2020 và Hợp đồng sửa đổi, bổ sung Hợp đồng tín dụng số 2021.01/HĐSĐ, BS HĐTD, ngày 09/12/2021, đủ cơ sở xác định Ngân hàng có cho ông Nguyễn Văn Dũng E (đồng thời là người đại diện theo uỷ quyền của bà Nguyễn Thị N) vay tín dụng, cụ thể như sau:

+ Số tiền vay: 200.000.000 đồng.

+ Kỳ trả nợ ngày 09/12/2022 trả nợ gốc.

+ Mục đích vay để chăn nuôi;

+ Thời hạn vay 12 tháng;

+ Lãi suất vay 07%/năm, áp dụng lãi suất thả nổi.

+ Lãi suất quá hạn được tính như sau: 150% lãi suất vay đã thoả thuận.

Căn cứ Báo cáo đề xuất kiêm giấy nhận nợ, số giải ngân 7103-LDS-2021 06717, ngày 09/12/2021 xác định ông Nguyễn Văn Dũng E đại diện bên vay có nhận của Ngân hàng số tiền vay được nêu trên.

Quá trình thực hiện, ông Dũng E và bà N không thanh toán đúng thỏa thuận, dư nợ hiện tại đến ngày 27/6/2024 thì số tiền phải trả là:

- Dư nợ gốc: 200.000.000 đồng

- Nợ lãi: 14.135.424 đồng

Tổng cộng: 214.135.424 đồng, do ông Dũng E và bà N vi phạm nghĩa vụ trả tiền nên buộc ông Dũng E và bà N liên đới trả cho Ngân hàng số tiền trên là có căn cứ theo quy định tại các Điều 274, 275, 280 của Bộ luật dân sự năm 2015.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày 27/6/2024, ông Dũng E và bà N còn phải tiếp tục chịu lãi phát sinh đã thỏa thuận theo hợp đồng tín dụng nêu trên cho đến khi trả tất nợ cho Ngân hàng theo quy định tại Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng.

Không còn yêu cầu nào khác, không xem xét.

[3]. Xét đề nghị của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Nam phù hợp với nhận định trên nên chấp nhận.

Do yêu cầu của Ngân hàng được chấp nhận nên ông Dũng E và bà N phải chịu án phí dân sự có giá ngạch theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 68, khoản 2 Điều 92, khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Căn cứ các Điều 274, 275, 280 của Bộ luật dân sự năm 2015.

Căn cứ Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng.

Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVWQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên: Chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng N.

Cụ thể tuyên:

1. Buộc ông Nguyễn Văn Dũng E và bà Nguyễn Thị N phải có nghĩa vụ liên đới trả cho Ngân hàng N (do Chi nhánh huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre đại diện nhận) số tiền tính đến ngày 27/6/2024 là:

- Dư nợ gốc: 200.000.000 đồng

- Nợ lãi: 14.135.424 đồng

Tổng cộng: 214.135.424 đồng (Hai trăm mười bốn triệu một trăm ba mươi lăm nghìn bốn trăm hai mươi bốn đồng).

2. Kể từ ngày tiếp theo của ngày 27/63/2024, ông Nguyễn Văn Dũng E và bà Nguyễn Thị N còn phải tiếp tục chịu lãi phát sinh đã thỏa thuận theo số 7103-LAV-202002393 ngày 27/7/2020 và Hợp đồng sửa đổi, bổ sung Hợp đồng tín dụng số 2021.01/HĐSĐ, BS HĐTD, ngày 09/12/2021 cho đến khi trả tất nợ cho Ngân hàng N.

3. Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Buộc ông Nguyễn Văn Dũng E và bà Nguyễn Thị N liên đới chịu 10.706.700 đồng (Mười triệu bảy trăm lẻ sáu nghìn bảy trăm đồng).

Hoàn tiền tạm ứng án phí 5.217.000 đồng tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003922, ngày 13/3/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre cho Ngân hàng N (do Ngân hàng N – Phòng giao dịch huyện Mỏ Cày Nam nhận).

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành bản án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày Toà án niêm yết bản án tại Ủy ban nhân dân xã nơi người đó cư trú để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ