vanban.org

Bản án 70/2023/HSST — Hình sự

TAND TP. Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông Tuyên án 12/09/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Cao Tiến Đ phạm tội “Trồng cây cần sa” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, bị cáo Nguyễn Văn NG phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Cao Tiến Đ phạm tội “Trồng cây cần sa” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, bị cáo Nguyễn Văn NG phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ GIA NGHĨA
TỈNH ĐẮK NÔNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 70/2023/HSST
Ngày 12-9-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ GIA NGHĨA, TỈNH ĐẮK NÔNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Yến.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Xuân Đông và bà Phạm Thị Hà

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thủy là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Thu Giang – Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 9 năm 2023, tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Gia Nghĩa mở phiên toà xét xử trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 60/2023/TLST-HS, ngày 01 tháng 8 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 59/2023/QĐXXST-HS, ngày 30/8/2023 đối với các bị cáo:

1. Cao Tiến Đ, sinh năm: 1992, tại tỉnh Đắk Nông; nơi đăng ký HKTT: Thôn T, xã N, huyện S, tỉnh Đắk Nông; chỗ ở hiện nay: Tổ dân phố T, phường T, thành phố N, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Cao Văn D (sinh năm 1962) và bà Nguyễn Thị Ph (sinh năm 1964); tiền án: Không; tiền sự: 01 tiền sự về hành vi trồng cầy cần sa; bị bắt tạm giữ từ ngày 10/4/2023 sau đó chuyển tạm giam, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Gia Nghĩa; có mặt tại điểm cầu thành phần Nhà tạm giữ Công an thành phố Gia Nghĩa.

2. Nguyễn Văn NG, sinh năm: 2002, tại tỉnh Đăk Lăk; nơi đăng ký HKTT: Bon P, xã x, huyện S, tỉnh Đắk Nông; chỗ ở hiện nay: Tổ dân phố T, phường T, thành phố N, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H (sinh năm1973) và bà Nguyễn Thị Đ (đã chết); tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ từ ngày 16/3/2023 sau đó chuyển tạm giam, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Gia Nghĩa; có mặt tại điểm cầu thành phần Nhà tạm giữ Công an thành phố Gia Nghĩa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đầu tháng 01/2023, Nguyễn Văn NG đến phụ làm rẫy cho Cao Tiến Đ tại tổ dân phố T, phường T, thành phố N, tỉnh Đắk Nông. Do có nhu cầu mua hạt giống cây cần sa để trồng, qua tìm hiểu trên mạng internet, Đ đã đặt mua 500 hạt giống cây cần sa của một người có tài khoản zalo tên “Đậu Đậu” (chưa rõ nhân thân, lai lịch) với giá 1.500.000 đồng và hẹn giao hàng tại tổ dân phố 8, thị trấn A, huyện S, tỉnh Đắk Nông. Sau đó, Đ cùng với NG ngâm nước, ươm hạt giống vào trong các bầu đất tại nhà rẫy. Quá trình ươm hạt giống có 398 hạt cần sa nảy mầm phát triển thành cây; cả hai dùng máy đào hố, kích thước mỗi hố khoảng (20 x 20)cm, khoảng cách mỗi hố khoảng 80cm rồi cùng nhau trồng, bón phân chăm sóc, tưới nước hàng ngày và trồng thêm vào các chậu nhựa màu đen. Đến đầu tháng 3/2023, khi cây cần sa phát triển khoảng 01m và ra hoa, Đ cùng NG dùng kéo cắt 120 cây thu hoạch và mang vào lán trại bên cạnh khu vực trồng cây để phơi khô, rồi cắt nhỏ bỏ vào trong các bao nilon, cất giấu vào thùng phi, mục đích để sử dụng. Tổng số cây cần sa cho thu hoạch là 398 cây (Trong đó: 120 cây đã thu hoạch và 278 cây chưa thu hoạch).

Ngày 15/3/2023, Hoàng Phi H (sinh năm: 2003; trú tại: Tổ dân phố 4, thị trấn Đức An, huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông) cùng với Đỗ Ngọc Hoàng Ph (sinh năm: 2005; trú tại: Tổ dân phố 4, thị trấn A, huyện S, tỉnh Đắk Nông) đến làm thuê tưới tiêu và cà phê cho Đ. Khoảng 20h00’ cùng ngày, sau khi làm việc và ăn tối xong, NG nhờ H và Ph xuống phụ cắt lá cây cần sa ở phía sau nhà thì cả hai đồng ý. Sau đó, Ph và H phụ cắt tỉa mỗi người được 02 cây cần sa, rồi cả hai nghỉ làm. Sáng ngày 16/3/2023, Đ đi giải quyết việc cá nhân tại thị trấn Đ, huyện S, tỉnh Đắk Nông; đến trưa cùng ngày, khi về lại nhà rẫy của mình Đ thấy Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Gia Nghĩa phát hiện bắt quả tang thu giữ số cần sa nói trên nên đã bỏ trốn khỏi địa phương. Đến ngày 10/4/2023, Đ đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Gia Nghĩa đầu thú và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Cáo trạng số: 63/CT-VKS-GN ngày 26/7/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Gia Nghĩa truy tố bị cáo Cao Tiến Đ về tội “Trồng cây cần sa” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 247 Bộ luật Hình sự; truy tố các bị cáo Cao Tiến Đ và Nguyễn Văn NG về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm h khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng đã truy tố đối với các bị cáo về tội danh và điều luật, đồng thời phân tích đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Cao Tiến Đ phạm tội “Trồng cây cần sa” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, bị cáo Nguyễn Văn NG phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Về hình phạt:

Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 247; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Cao Tiến Đ từ 06 (sáu) tháng đến 09 (chín) tháng tù về tội “Trồng cây cần sa”.

Áp dụng điểm h khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Cao Tiến Đ từ 06 (sáu) năm đến 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự, tổng hợp hình phạt của hai tội, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung từ 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng đến 07 (bảy) năm 03 (ba) tháng tù.

Áp dụng điểm h khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn NG từ 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng đến 06 (sáu) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tiêu hủy 12.066,7gam thân, cành, lá, hoa khô; 278 cây cần sa xanh và 120 gốc, rễ cây cần sa hoàn lại sau giám định do là vật cấm tàng trữ.

- Tiêu hủy 11 cây kéo bằng kim loại do không còn giá trị sử dụng.

- Trả lại 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi Redmi cho bị cáo Cao Tiến Đ là chủ sở hữu hợp pháp do không liên quan đến việc phạm tội.

Các bị cáo không bào chữa, không tranh luận mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh: Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người tham gia tố tụng khác và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử đủ căn cứ pháp lý để kết luận: Vào khoảng tháng 01/2023, tại tổ dân phố Nghĩa Thắng, phường Quảng Thành, thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông; Cao Tiến Đ và Nguyễn Văn NG đã có hành vi trồng 398 cây cần sa có chứa ma túy, trong đó: 278 cây chưa thu hoạch và 120 cây đã thu hoạch có tổng khối lượng là 12.141,82 gam nhằm mục đích để sử dụng.

Hành vi của các bị cáo cất giấu 12.141,82 gam cần sa nhằm mục đích để sử dụng đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm h khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Ngoài ra, ngày 30/11/2021 Cao Tiến Đ bị Công an huyện Đắk Mil xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trồng cây cần sa” tại Quyết định số: 008779/QĐ-XPVPHC; ngày 04/7/2022 Đ mới chấp hành xong hình phạt; đến ngày 16/3/2023 Đ bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Gia Nghĩa phát hiện bắt quả tang trồng 278 cây cần sa chưa thu hoạch. Do đó hành vi của Cao Tiến Đ đủ yếu tố cấu thành tội “Trồng cây cần sa” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 247 Bộ luật Hình sự nên Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Gia Nghĩa truy tố đối với các bị cáo về hành vi theo tội danh và điều khoản nêu trên là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Điều luật quy định như sau:

Điều 247. Tội trồng cây cần sa

“1. Người nào trồng cây thuốc phiện, cây côca, cây cần sa hoặc các loại cây khác có chứa chất ma túy do Chính phủ quy định thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

…

b) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

…”.

Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

…

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

…

h) ……; lá, rễ, thân, cành, hoa, quả của cây cần sa …… có khối lượng từ 10 kilôgam đến dưới 25 kilôgam;

…”.

Xét, tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội: Hành vi nêu trên của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội và rất nghiêm trọng, trực tiếp xâm phạm đến chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, đồng thời làm ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương. Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi trồng và tàng trữ cây cần sa bị pháp luật nghiêm cấm nhưng các bị cáo cố ý thực hiện nên các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của mình. Trong vụ án này, các bị cáo phạm tội có tính chất đồng phạm nhưng chỉ đồng phạm giản đơn, bị cáo Đ là người thuê bị cáo NG, vai trò của bị cáo NG thứ yếu hơn; do đó khi quyết định hình phạt cần xác định rõ tính chất, mức độ phạm tội và nhân thân của từng bị cáo để có mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội trong đó bị cáo Đ có mức hình phạt cao hơn bị cáo NG về tội “tàng trữ trái phép chất ma túy” thì mới thể hiện được tính nghiêm minh và công bằng của pháp luật.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với các bị cáo:

Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Ngoài ra, bị cáo Cao Tiến Đ sau khi bỏ trốn đã tự nguyện ra đầu thú, có ông nội là liệt sỹ nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa về tội danh và hình phạt đối với bị cáo Cao Tiến Đ là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Mức hình phạt đề nghị đối với bị cáo Nguyễn Văn NG là có phần nghiêm khắc so với tính chất mức độ mà bị cáo NG đã gây ra nên cần xử phạt bị cáo NG mức thấp hơn mức hình phạt mà Đại diện Viện kiểm sát đã đề nghị.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với 12.066,7gam thân, cành, lá, hoa khô; 278 cây cần sa xanh và 120 gốc, rễ cây cần sa hoàn lại sau giám định do là vật cấm tàng trữ nên cần tiêu hủy.

- Đối với 11 cây kéo bằng kim loại là công cụ phạm tội, do không còn giá trị sử dụng nên cần tiêu hủy.

- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi Redmi của Cao Tiến Đ, do không liên quan đến việc phạm tội nên cần trả lại cho Cao Tiến Đ là phù hợp.

Trong vụ án này còn có một số vấn đề như sau:

Nguyễn Văn NG có hành vi cùng với Cao Tiến Đ trồng trái phép 278 cây cần sa chưa thu hoạch, Trưởng Công an thành phố Gia Nghĩa đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định.

Đối với Nguyễn Thị Thanh Tâm là người sống chung như vợ chồng với Cao Tiến Đ nhưng chị Tâm không biết loại cây Đ và NG trồng là cây cần sa cũng như không tham gia vào hoạt động chăm sóc, thu hoạch nên Cơ quan CSĐT không đề cập xử lý là đúng quy định pháp luật.

Đối với Hoàng Phi H và Đỗ Ngọc Hoàng Ph có hành vi phụ giúp Nguyễn Văn NG cắt tỉa lá cây cần sa vào ngày 15/3/2023; tuy nhiên, Hùng và Phi không tham gia vào hoạt động chăm sóc, không biết loại cây mà NG nhờ thu hoạch là cần sa nên Cơ quan CSĐT không đề cập xử lý là đúng quy định pháp luật.

Đối với người bán hạt giống cây cần sa cho Cao Tiến Đ có tên tài khoản zalo là “Đậu Đậu”, quá trình điều tra chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan CSĐT tiếp tục xác minh, khi nào có căn cứ sẽ xử lý sau.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Cao Tiến Đ phạm tội “Trồng cây cần sa” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, bị cáo Nguyễn Văn NG phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Về hình phạt:

Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 247; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Cao Tiến Đ 06 (sáu) tháng tù về tội “Trồng cây cần sa”.

Áp dụng điểm h khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Cao Tiến Đ 06 (sáu) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự, tổng hợp hình phạt của hai tội, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ (ngày 10/4/2023).

Áp dụng điểm h khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn NG 05 (năm) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ (ngày 16/3/2023).

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tiêu hủy 12.066,7gam thân, cành, lá, hoa khô; 278 cây cần sa xanh và 120 gốc, rễ cây cần sa hoàn lại sau giám định.

- Tiêu hủy 11 cây kéo bằng kim loại.

- Trả lại 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi Redmi cho bị cáo Cao Tiến Đ.

(Các vật chứng có đặc điểm nêu tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 27/7/2023 giữa Công an thành phố Gia Nghĩa và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Gia Nghĩa).

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án, buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- TAND tỉnh Đắk Nông;

- VKSND tỉnh Đắk Nông

- VKSND thành phố Gia Nghĩa;

- Sở Tư pháp tỉnh Đắk Nông;

(Đã ký tên đóng dấu)

- Phòng PV06, PC10 Công an tỉnh Đắk Nông;

- Công an thành phố Gia Nghĩa;

- Phòng HSNV Công an thành phố Gia Nghĩa;

- Chi cục THADS thành phố Gia Nghĩa;

Nguyễn Thị Yến

- Bị cáo;

- Lưu hồ sơ vụ án; VPTA;

Cỡ chữ