vanban.org

Bản án 70/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Mộc Châu, tỉnh Sơn La Tuyên án 07/03/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Sa Mạnh H và đồng phạm - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 58 Bộ luật Hình sự Tuyên bố; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MỘC CHÂU
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 70/2023/HS-ST
Ngày 07-3-2023

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lương Long Bình.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lò Việt Huấn và bà Cầm Thị Đoa.

- Thư ký phiên tòa: B Phan Thị Lệ Giang, Thư Tòa án nh n d n huyện Mộc Ch u, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Lý Hoàng Linh, Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 3 năm 2023, tại Tòa án nh n d n huyện Mộc Ch u, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công hai vụ án hình sự sơ thẩm thụ l số 66/2023/TLST-HS ngày 15/02/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 70/2023/QĐXXST-HS ngày 22/02/2023 đối với các bị cáo:

1. Sa Mạnh H, sinh ngày: 10/9/1999 tại huyện M, tỉnh Sơn La; nơi cư trú: Bản L, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; d n tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đảng phái, đo n thể: Không; con ông Sa Văn N, sinh năm 1975 và bà H Thị N1, sinh năm 1978; bị cáo có vợ là Vì Thị H và có 01 con sinh năm 2022; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ng y 26/11/2022 đến nay. Có mặt.

2. Sa Quốc T, sinh ngày: 26/3/2001 tại huyện M, tỉnh Sơn La; nơi ĐKHKTT: Tổ A, phường C, th nh phố S, tỉnh Sơn La; Chỗ ở hiện nay: Tiểu hu B, thị trấn M, huyện M, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; d n tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đảng phái, đo n thể: Không; con ông Sa Quốc H, sinh năm 1974 và bà Lò Thị H1, sinh năm 1981; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

+ Ngày 26/2/2018, Công an th nh phố Sơn La ra quyết định xử phạt 1.250.000 đồng về h nh vi x m hại sức hỏe người hác. Đã nộp tiền phạt ng y 05/3/2018 (đã được xóa tiền sự).

+ Ng y 10/9/2021, Công an th nh phố Sơn La ra quyết định xử phạt 3.000.000 đồng về h nh vi x m hại sức hỏe người hác. Đã nộp tiền phạt ng y 20/9/2021. (đã được xóa tiền sự).

Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ng y 26/11/2022 đến nay. Có mặt.

3. Sa Ngọc A, sinh ngày: 02/11/2000 tại huyện M, tỉnh Sơn La; nơi cư trú: Bản L, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; d n tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đảng phái, đo n thể: Không; con ông Sa Văn H, sinh năm 1972 và bà Lường Thị Y, sinh năm 1975; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ng y 26/11/2022 đến nay. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Đ o Xu n C, sinh năm 1985. Nơi cư trú: Tiểu hu B, thị trấn M, huyện M, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 23h00’ ng y 25/11/2022, tổ công tác Công huyện Mộc Ch u l m nhiệm vụ tại bản S, xã M, huyện M tiến h nh iểm tra đối với xe ôtô BKS: 30E-455.38 đang đỗ tại bãi đất trống cạnh đường. Trên xe có Sa Quốc T ngồi ở vị trí ghế lái, Sa Ngọc A đứng cạnh xe ô tô, Sa Mạnh H đang ngồi ở vị trí ghế phụ. Qua iểm tra, phát hiện 01 gói nilon m u trắng bên trong đựng 8 viên nén m u hồng nghi l Methamphetamine ở hu vực nền đất giáp cửa trước bên lái của xe ôtô. Sa Mạnh H, Sa Ngọc A, Sa Quốc T hai nhận đó l Methamphetamine của H, A, T vừa cùng nhau góp tiền đi mua mang về để cùng nhau sử dụng. Căn cứ h nh vi vi phạm của H, A, T tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ niêm phong vật chứng v dẫn giải H, A, T đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Ch u để điều tra, l m rõ.

Ng y 26/11/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Ch u tiến h nh xác định hối lượng 08 viên nén m u hồng thu giữ của Sa Mạnh H, Sa Ngọc A, Sa Quốc T được 0,78 gam, lấy to n bộ l m mẫu trưng cầu giám định, mẫu có hiệu H.

Tại Kết luận giám định số 1780 ng y 28/11/2022 của Phòng ỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La ết luận: “Mẫu gửi giám định ký hiệu H là ma túy. Loại Methamphetamine; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,78 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,78 gam; loại Methamphetamine”.

Ngày 26/11/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Ch u đã tiến h nh hám nghiệm hiện trường nơi thu giữ gói ma túy xác định: Là bãi đất trống thuộc bản S, xã M, huyện M, bãi đất có ích thước 19x16m. Phía Bắc giáp đường bê tông. Vị trí chiếc xe ôtô BKS: 30E-455.38 quay hướng T y, đuôi xe quay hướng Đông. Vị trí Sa Ngọc A đứng, cách trục bánh sau xe 60cm theo hướng Nam, cách mép tường bao 3m, theo hướng Bắc. Vị trí gói Methamphetamine cách trục bánh trước bên trái xe ôtô là 3,5m theo hướng Đông Bắc, cách mép tường bao 8,2m theo hướng Bắc.

Quá trình điều tra, Sa Mạnh H, Sa Ngọc A, Sa Quốc T hai nhận: H, A, T đều sử dụng chất ma túy sinh sống ở cùng bản v có quan hệ l họ h ng. Chiều ngày 25/11/2022, H mời A, T đến nh ăn cơm cùng với Bùi Xuân H, sinh năm: 2005, trú quán: Bản S, xã M, huyện M (bạn của T). Khoảng 21h00 cùng ng y, sau hi ăn cơm, uống rượu xong, H nảy sinh định đi mua ma túy để cùng nhau sử dụng nên rủ T và A cùng góp tiền mua ma túy, do A biết chỗ bán ma túy nhưng hông có tiền nên mọi người thống nhất H và T góp tiền đưa cho A đi mua Methamphetamine. Sau đó, T đưa cho H 700.000 đồng, H góp thêm 300.000 đồng rồi đưa cho A. A cầm tiền một mình đi trên đường d n sinh thuộc Bản L, xã M, huyện M thì gặp v mua của một người tên Đ được 08 viên hồng phiến (Methamphetamine) gói trong nilon m u trắng với giá 1.000.000 đồng. Sau hi mua được Hồng phiến, A mang về nha đưa cho H cầm. Sau đó, T điều hiển xe ôtô BKS: 30E-455.38 chở Bùi Xu n H đi về, H và A lên xe đi cùng. Sau hi đưa H về nhà, T điều hiển xe ôtô chở H và A đi đến bãi đất trống ở bản S, xã M để sử dụng Hồng phiến. Khi đi đến bãi đất trống, A mở cửa xuống xe, vừa lúc đó H nhìn thấy tổ công tác Công an huyện Mộc Ch u đi đến iểm tra nên vứt gói hồng phiến qua cửa bên trái xuống đất thì bị tổ công tác phát hiện, thu giữ.

Tại phiên tòa các bị cáo Sa Mạnh H, Sa Quốc T, Sa Ngọc A trình bày ý kiến, giữ nguyên lời khai của mình, không thay đổi, bổ sung thêm nội dung nào làm thay đổi nội dung vụ án. Các bị cáo nhận tội như quyết định truy tố của Viện kiểm sát.

Cáo trạng số 23/CT-VKS ngày 14/02/2023 của Viện iểm sát nh n d n huyện Mộc Ch u truy tố các bị can Sa Mạnh H, Sa Quốc T, Sa Ngọc A về tội “T ng trữ trái phép chất ma tu ” theo điểm c hoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện iểm sát nh n d n huyện Mộc Ch u giữ nguyên cáo trạng truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Sa Mạnh H, Sa Quốc T, Sa Ngọc A phạm tội “T ng trữ trái phép chất ma tu ” v áp dụng các căn cứ pháp luật như sau:

1. Áp dụng điểm c hoản 1 Điều 249; điểm s hoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Sa Mạnh H từ 18 tháng đến 21 tháng tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

2. Áp dụng điểm c hoản 1 Điều 249; điểm s hoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Sa Quốc T từ 18 tháng đến 21 tháng tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

3. Áp dụng điểm c hoản 1 Điều 249; điểm s hoản 1, 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Sa Ngọc A từ 18 tháng đến 21 tháng tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

4. Về vật chứng vụ án: Áp dụng hoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; hoản 1, điểm c hoản 2, điểm b hoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 01 chiếc phong bì thư còn nguyên niêm phong một mặt có ghi dòng chữ: Vật chứng vụ: Sa Mạnh H cùng đồng phạm, bắt ng y 25/11/2022 (một túi nilon m u trắng, một mảnh nilon m u trắng cùng phong bì niêm phong ban đầu); 01 chiếc phong bì thư còn nguyên niêm phong bên trong đựng test thử ma túy của Sa Mạnh H, ngày 26/11/2022; 01 chiếc phong bì thư còn nguyên niêm phong bên trong đựng test thử ma túy của Sa Ngọc A, ngày 26/11/2022; 01 chiếc phong bì thư còn nguyên niêm phong bên trong đựng test thử ma túy của Sa Quốc T, ngày 26/11/2022; 01 chiếc phong bì thư còn nguyên niêm phong bên trong đựng test thử ma túy của Lò Văn Định, ng y 3/2/2023; 03 chiếc phong bì đã dùng để niêm phong 03 chiếc điện thoại của Sa Mạnh H, Sa Quốc T, Sa Ngọc A.

Trả cho bị cáo Sa Mạnh H 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE, m u hồng thu giữ của Sa Mạnh H.

Trả cho bị cáo Sa Ngọc A 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A5s, m u đỏ thu giữ của Sa Ngọc A.

Trả cho bị cáo Sa Quốc T 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE, m u đen thu giữ của Sa Quốc T.

Chấp nhận việc cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Ch u đã trao trả 01 chiếc xe ô tô con nhãn hiệu Hyundai, loại I10, màu sơn trắng, biển kiểm soát 30E-455.38 cho ông Đ o Xu n C.

5. Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Sau hi đại diện Viện iểm sát phát biểu quan điểm xử l các vấn đề của vụ án. Các bị cáo nhất trí với cáo trạng v đề nghị của đại diện Viện iểm sát.

Lời nói sau cùng: Các bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NH N Đ NH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về tố tụng: H nh vi, quyết định tố tụng của cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Mộc Ch u, Điều tra viên, Viện iểm sát nh n d n huyện Mộc Ch u, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Các bị cáo hông có

iến, hiếu nại về h nh vi của cơ quan tiến h nh tố tụng, người tiến h nh tố tụng. Do đó, các h nh vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến h nh tố tụng, người tiến h nh tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Tại phiên tòa các bị cáo Sa Mạnh H, Sa Quốc T, Sa Ngọc A hai nhận to n bộ h nh vi phạm tội của mình như đã hai tại cơ quan Điều tra, số ma túy bị tổ công tác Công an huyện Mộc Ch u thu giữ của các bị cáo v o ng y 25/11/2022 có nguồn gốc mua được của một người đ n ông tên Đ với giá 1.000.000 đồng, mục đích cùng nhau sử dụng. Lời hai của các bị cáo hông có nội dung gì thay đổi so với lời hai tại cơ quan Cảnh sát điều tra, các bị cáo hẳng định việc hai báo tại cơ quan điều tra v tại phiên tòa ng y hôm nay l ho n to n tự nguyện v đúng với h nh vi đã thực hiện.

Xét lời hai của các bị cáo l ho n to n tự nguyện v phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang do tổ công tác Công an huyện Mộc Ch u lập v o hồi 23 giờ 00 phút ngày 25/11/2022; biên bản niêm phong đồ vật, t i liệu bị tạm giữ; biên bản mở niêm phong xác định số lượng, hối lượng, lấy mẫu giám định, niêm phong lại vật chứng đồ vật, t i liệu bị tạm giữ; bản ết luận giám định số 1780 ngày 28/11/2022 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La ết luận: “Mẫu gửi giám định hiệu H l ma túy. Loại Methamphetamine; hối lượng của mẫu gửi giám định l 0,78 gam. Tổng hối lượng ma túy thu giữ l 0,78 gam; loại Methamphetamine” nằm trong danh mục II, mục IIC, số thứ tự 247 tại Nghị định 57/2022/NĐ-CP ng y 25/8/2022 của Chính phủ. Lời hai của các bị cáo phù hợp với lời hai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người l m chứng trong quá trình điều tra v các t i liệu, chứng cứ của cơ quan điều tra đã thu thập được trong hồ sơ vụ án.

Từ những chứng cứ nêu trên Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo Sa Mạnh H, Sa Quốc T, Sa Ngọc A là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được tác hại của việc t ng trữ, sử dụng ma túy. Nhưng do nghiện chất ma túy nên ngày 25/11/2022 bị cáo Sa Mạnh H, Sa Quốc T, Sa Ngọc A đã có h nh vi t ng trữ, cất giấu trái phép 0,78 gam Methamphetamine nhằm mục đích cùng nhau sử dụng. H nh vi của các bị cáo đủ yếu tố cấu th nh tội T ng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c hoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết định khung hình phạt: H nh vi của bị cáo Sa Mạnh H, Sa Quốc T, Sa Ngọc A hông vi phạm các tình tiết định hung tăng nặng hác nên chỉ bị xét xử ở điểm c hoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm: H nh vi phạm tội của các bị cáo l nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp x m phạm đến chính sách độc quyền của Nh nước về quản l các chất ma túy, g y ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương.

Phân hoá vai trò phạm tội: Bị cáo Sa Mạnh H l người hởi xướng v góp tiền mua ma túy, trực tiếp cất giấu số ma túy; Sa Quốc T l người cùng b n bạc v góp tiền mua ma túy; Sa Ngọc A l người cầm tiền, trực tiếp đi mua ma túy để cùng sử dụng. Các bị cáo cùng cố thực hiện tội phạm, phạm tội thuộc trường hợp đồng phạm theo quy định tại Điều 17 Bộ luật hình sự, do đó hi quyết định hình phạt cần căn cứ Điều 58 Bộ luật hình sự xem xét tính chất của đồng phạm, tính chất mức độ tham gia phạm tội của từng bị cáo.

Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Các bị cáo Sa Mạnh H, Sa Quốc T được hưởng một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đó là trong quá trình điều tra v tại phiên tòa ng y hôm nay các bị cáo đều có thái độ th nh hẩn hai báo, ăn năn hối cải đ y là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s hoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, cần xem xét áp dụng đối với các bị cáo.

Bị cáo Sa Ngọc A được hưởng hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đó là trong quá trình điều tra v tại phiên tòa ng y hôm nay bị cáo có thái độ th nh hẩn hai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có ông nội l Sa Quang V l người có công với cách mạng được Nh nước tặng thưởng Huy chương háng chiến hạng Nhất đ y l tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s hoản 1, hoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, cần xem xét áp dụng đối với bị cáo.

Về nhân thân của các bị cáo:

Các bị cáo đều l đối tượng nghiện chất ma túy. Đối với bị cáo Sa Quốc T đã hai lần bị xử phạt h nh chính về h nh vi x m hại sức hỏe của người hác (đều đã được xoá tiền sự).

Từ những đánh giá nêu trên Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly các bị cáo ra hỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng cải tạo, giáo dục đối với các bị cáo, đồng thời mới có tác dụng răn đe, giáo dục v phòng ngừa tội phạm chung.

[3] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại hoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự quy định người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy quá trình điều tra v thẩm vấn công hai tại phiên tòa hôm nay thấy rằng các bị cáo l đối tượng nghiện ma túy, sống chung với gia đình, hông có t i sản riêng có giá trị, nên hông áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo l phù hợp.

[4] Về vật chứng, xử lý vật chứng:

Đối với 01 chiếc phong bì thư còn nguyên niêm phong một mặt có ghi dòng chữ: Vật chứng vụ: Sa Mạnh H cùng đồng phạm, bắt ng y 25/11/2022 (một túi nilon m u trắng, một mảnh nilon m u trắng cùng phong bì niêm phong ban đầu); 01 chiếc phong bì thư còn nguyên niêm phong bên trong đựng test thử ma túy của Sa Mạnh H, ngày 26/11/2022; 01 chiếc phong bì thư còn nguyên niêm phong bên trong đựng test thử ma túy của Sa Ngọc A, ngày 26/11/2022; 01 chiếc phong bì thư còn nguyên niêm phong bên trong đựng test thử ma túy của Sa Quốc T, ngày 26/11/2022; 01 chiếc phong bì thư còn nguyên niêm phong bên trong đựng test thử ma túy của Lò Văn Định, ng y 3/2/2023; 03 chiếc phong bì đã dùng để niêm phong 03 chiếc điện thoại của Sa Mạnh H, Sa Quốc T, Sa Ngọc A. Áp dụng hoản 1, điểm c hoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE, m u hồng thu giữ của Sa Mạnh H, bị cáo hông sử dụng v o việc phạm tội do vậy cần trả cho bị cáo Sa Mạnh H quản l , sử dụng.

Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A5s, m u đỏ thu giữ của Sa Ngọc A, bị cáo hông sử dụng v o việc phạm tội do vậy cần trả cho bị cáo Sa Ngọc A quản l , sử dụng.

Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE, m u đen thu giữ của Sa Quốc T, bị cáo hông sử dụng v o việc phạm tội do vậy cần trả cho bị cáo Sa Quốc T quản l , sử dụng.

Đối với 01 chiếc xe ô tô con nhãn hiệu Hyundai, loại I10, màu sơn trắng, biển kiểm soát 30E-455.38 thu giữ của Sa Quốc T. Xét thấy đ y l t i sản riêng của ông Đ o Xu n C (Bố dượng của bị cáo Sa Quốc T), việc bị cáo Tân sử dụng xe để đi mua ma túy, ông Cường hoàn toàn không biết v hông liên quan. Do đó cần chấp nhận việc cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Ch u đã trả lại cho ông Đ o Xu n C.

[5] Về các vấn đề khác:

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Ch u đã tiến h nh xác minh, xác định tại bản Bản L, xã M, huyện M có Lò Văn Đ, tên khác: Lò Văn N, sinh năm: 1993 sinh sống, đến năm 2014 Lò Văn Đ chuyển đến cư trú tại bản N, xã C, huyện Y, tỉnh Sơn La.

Lò Văn Đ hai nhận: Cuối tháng 11/2022 ( hông nhớ rõ ng y) Đ có đến nhà Sa Mạnh H ăn cơm, hi ăn cơm Định có gặp Sa Ngọc A, Định hông bán ma túy cho Ánh. Cơ quan Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Ch u đã tiến h nh lấy lời hai v đối chất giữa Sa Ngọc A v Lò Văn Định. Kết quả: Lò Văn Đ hông thừa nhận việc đã bán ma túy cho Sa Ngọc A.

Đối với Lò Văn Đ, Bùi Xuân H hông liên quan đến h nh vi t ng trữ trái phép chất ma túy của các bị cáo nên hông đề cập đến việc xử l .

[6] Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm mỗi bị cáo là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) phù hợp với hoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21, điểm a hoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ng y 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản l v sử dụng án phí v lệ phí Tòa án.

Thời hạn tạm giam của các bị cáo dưới 45 ng y nên Hội đồng xét xử ra quyết định tạm giam đối với bị cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT Đ NH:

1. Căn cứ điểm c hoản 1 Điều 249; điểm s hoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự

Tuyên bố bị cáo Sa Mạnh H phạm tội “T ng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Sa Mạnh H 18 (Mười tám) tháng tù.

Thời hạn tù của bị cáo tính từ ng y 26/11/2022.

Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

2. Căn cứ điểm c hoản 1 Điều 249; điểm s hoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự

Tuyên bố bị cáo Sa Quốc T phạm tội “T ng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Sa Quốc T 18 (Mười tám) tháng tù.

Thời hạn tù của bị cáo tính từ ng y 26/11/2022.

Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

3. Căn cứ điểm c hoản 1 Điều 249; điểm s hoản 1, 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự

Tuyên bố bị cáo Sa Ngọc A phạm tội “T ng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Sa Ngọc A 18 (Mười tám) tháng tù.

Thời hạn tù của bị cáo tính từ ng y 26/11/2022.

Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

4. Về vật chứng của vụ án: Căn cứ hoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; hoản 1, điểm c hoản 2, điểm b hoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 01 chiếc phong bì thư còn nguyên niêm phong một mặt có ghi dòng chữ: Vật chứng vụ: Sa Mạnh H cùng đồng phạm, bắt ng y 25/11/2022 (một túi nilon m u trắng, một mảnh nilon m u trắng cùng phong bì niêm phong ban đầu); 01 chiếc phong bì thư còn nguyên niêm phong bên trong đựng test thử ma túy của Sa Mạnh H, ngày 26/11/2022; 01 chiếc phong bì thư còn nguyên niêm phong bên trong đựng test thử ma túy của Sa Ngọc A, ngày 26/11/2022; 01 chiếc phong bì thư còn nguyên niêm phong bên trong đựng test thử ma túy của Sa Quốc T, ngày 26/11/2022; 01 chiếc phong bì thư còn nguyên niêm phong bên trong đựng test thử ma túy của Lò Văn Định, ng y 3/2/2023; 03 chiếc phong bì đã dùng để niêm phong 03 chiếc điện thoại của Sa Mạnh H, Sa Quốc T, Sa Ngọc A.

Trả cho bị cáo Sa Mạnh H 01 (Một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE, m u hồng thu giữ của Sa Mạnh H.

Trả cho bị cáo Sa Ngọc A 01 (Một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A5s, m u đỏ thu giữ của Sa Ngọc A.

Trả cho bị cáo Sa Quốc T 01 (Một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE, m u đen thu giữ của Sa Quốc T.

Chấp nhận việc cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Ch u đã trao trả 01 (Một) chiếc xe ô tô con nhãn hiệu Hyundai, loại I10, màu sơn trắng, biển kiểm soát 30E-455.38 cho ông Đ o Xu n C.

5. Về án phí: Căn cứ hoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; hoản 1 Điều 21, điểm a hoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ng y 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội hóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản l v sử dụng án phí v lệ phí Tòa án.

Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm mỗi bị cáo l 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng chẵn).

Các bị cáo có quyền háng cáo trong hạn 15 ng y ể từ ng y tuyên án.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền háng cáo trong thời hạn 15 ng y ể từ ng y nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ