- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn H - Vi phạm quy định về tham gia GTĐB - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ Y - TỈNH YÊN BÁI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 70/2023/HS-ST Ngày 12-9-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ Y – TỈNH YÊN BÁI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hoàng Hải.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Ngọc H và bà Đoàn Thị Oanh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thái H - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Y, tỉnh Yên Bái.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Y tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Thanh Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 9 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Y, tỉnh Yên Bái xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 74/2023/TLST-HS ngày 08 tháng 8 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 78/2023/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 8 năm 2023, đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn H; tên gọi khác: Không; sinh ngày 2x tháng 1x năm 199x tại tỉnh Tuyên Quang; nơi cư trú: Thôn Đồng X, xã Sơn N, huyện Sơn D, tỉnh Tuyên Quang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị T; vợ, con: Chưa có; tiền án; tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt
* Bị hại:
- Anh Trần Việt H, sinh năm 199x; nơi đăng ký thường trú: Phường Đa P, quận Dương K, thành phố H; nơi tạm trú: Tổ 0x, phường Nghĩa X, quận Lê C, thành phố H. Vắng mặt.
- Chị Nguyễn Thị Phương M, sinh năm 1990; nơi đăng ký thường trú: Phường Đồng Quốc B, Quận Ngô Q, thành phố Hải P; nơi tạm trú: Tổ 0x, phường Nghĩa X, quận Lê C, thành phố H. Vắng mặt.
- Chị Tráng Thị B, sinh năm 1997; nơi cư trú: Thôn B, xã L, huyện V, tỉnh Yên Bái. Vắng mặt.
- Chị Tráng Seo L, sinh năm 1997; nơi cư trú: Thôn S, xã T, huyện S, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt.
- Ông Trần Thanh T, sinh năm 1969, nơi cư trú: Tổ dân phố Đ, Phường V, quận K, thành phố H. Vắng mặt.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Trần Thành X, sinh năm 1976; nơi cư trú: Tổ dân phố Đ, Phường V, quận K, thành phố H. Vắng mặt.
- Công ty TNHH SM; địa chỉ: 34x- LTT, phường M, quận N, thành phố H. Người đại diện theo pháp luật: Ông Mạc Văn T – Giám đốc. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Quốc K, sinh năm 197x, nơi cư trú: Tổ 0x, phường L, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt.
- Anh Nguyễn Ngọc X, sinh năm 198x; nơi cư trú: Tổ x, khu H, phường S, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Vắng mặt.
- Anh Trần Văn T, sinh năm 198x; nơi cư trú: Thôn V, xã N, huyện M, tỉnh Hải Dương. Vắng mặt.
- Ông Phan Thanh H, sinh năm 197x; nơi cư trú: Thôn X, xã Đ, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc. Vắng mặt.
- Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 198x; nơi cư trú: Thôn X, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Anh Nguyễn Ngọc Xlà chủ sở hữu xe ôtô tải biển kiểm soát 88C-078.18. Khoảng tháng 02/2023, anh X thuê Nguyễn Văn H có giấy phép lái xe ô tô hạng C làm lái xe ôtô cho X để chở hàng cho khách từ địa bàn tỉnh Lào Cai đi các tỉnh khác, việc nhận chở hàng cho khách do anh X trực tiếp nhận với khách, H chỉ là người điều khiển xe ôtô theo sự sắp xếp, điều hành của anh X.
Ngày 10/4/2023, anh X nhận vận chuyển cho anh Trần Văn Thái 800 hộp quả táo tàu khô từ thành phố L, tỉnh Lào Cai về thành phố H Nội nên khoảng 03 giờ 00 ngày 11/4/2023, H đã điều khiển xe ôtô, BKS 88C-078.XX chở hàng đi từ thành phố L, tỉnh Lào Cai theo đường cao tốc Nội Bài - Lào Cai về thành phố Hà Nội. Đến khoảng 06 giờ 20 cùng ngày, H điều khiển xe ô tô trên đi đến khu vực Km 114 thuộc địa phận tỉnh Yên Bái thì H thấy mệt và tìm chỗ nghỉ, nhưng vì H đã đi quá trạm dừng nghỉ, nên đã điều khiển xe đi ra nút giao IC12 của đường cao tốc sau đó lại đi vào nút giao IC12 theo chiều đường Nội Bài đi Lào Cai để vào trạm dừng nghỉ Km 117 để nghỉ. H nghỉ đến khoảng 11 giờ cùng ngày thì tiếp tục điều khiển xe ô tô chở hàng về thành phố Hà Nội, do xe đang đi ở phần đường theo hướng về Lào Cai nên H điều khiển xe di chuyển đi thẳng theo chiều đường. Khi đi đến khu vực Km 123 của đường cao tốc Nội Bài - Lào Cai thấy đoạn đường phía trước sắp hết dải phân cách cứng ngăn cách giữa hai chiều đường nên H có ý định quay đầu xe để đi theo chiều Lào Cai - Nội Bài để về thành phố Hà Nội. H điều khiển xe ôtô sát với làn dừng xe khẩn cấp và quan sát thấy vừa hết đoạn đường có dải phân cách cứng giữa hai chiều đường nên H điều khiển xe ôtô quay đầu để đi sang chiều đường hướng Lào Cai đi Nội Bài. Khi phần đầu xe ôtô tải do H điều khiển đến đầu của dải phân cách cứng thì xe ôtô khách, biển kiểm soát 15B- 021.xx do anh Trần Thành X điều khiển đang đi cùng chiều theo hướng Nội Bài đi Lào Cai đã đâm vào giữa thùng xe bên trái của xe do H điều khiển rồi dừng lại. Thấy xảy ra va chạm, H dừng và xuống xe, thấy trên xe khách có người bị thương nên H cùng một số người khác trên xe khách đưa những người bị thương xuống xe để đưa đi cấp cứu.
Hậu quả: Xe ôtô khách BKS 15B-021.xx và xe ôtô tải BKS 88C078.xx bị hư hỏng; 05 người trên xe ôtô khách gồm: Trần Việt H; Nguyễn Thị Phương M; Tráng Thị B; Trần Thành T và Tráng Seo L bị thương phải nhập viện điều trị.
Quá trình điều tra xác định: Nguyễn Văn H có giấy phép lái xe hạng C, có giá trị đến ngày 26/8/2024. Kết quả xét nghiệm chất ma túy của Nguyễn Văn H là âm tính; Kết quả đo nồng độ cồn trong hơi thở của Nguyễn Văn H là: 0,0mg/l.
Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 113 ngày 22/6/2023 và các Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 116; 117; 118; 119 cùng ngày 03/7/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh Yên Bái kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể của Trần Thành T: 24%; Trần Việt H: 20%; Nguyễn Thị Phương M: 10%; Tráng Thị B: 03% và Tráng Seo L: 03% tại thời điểm giám định. Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của các bị hại tại thời điểm giám định là 60% .
Tại bản kết luận định giá tài sản số 21/KL-HĐĐGTS ngày 15/5/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Thành phố Y kết luận:
- Xe ô tô tải có mui, màu sơn trắng, nhãn hiệu HYUNDAI, xe gắn BKS 88C-078.xx; số khung: KMCEK 18LPBC0553xx; số máy D6HAB2074xx. Tình trạng xe cũ, đã qua sử dụng, xác định tổng giá trị tài sản bị hư hỏng do tai nạn giao thông ngày 11/04/2023 là: 6.000.000 đồng.
- Xe ôtô, loại khách giường nằm, nhãn hiệu THACO, màu sơn: xanh trắng, xe gắn biển kiểm soát 15B-021.xx, số khung: RN5B46SBCFC0046xx, số máy: WP12375N1415S0332xx. Tình trạng xe cũ, đã qua sử dụng, xác định tổng giá trị tài sản bị hư hỏng do tai nạn giao thông ngày 11/04/2023 là: 229.422.900 đồng.
* Đồ vật, tài liệu đã thu giữ gồm:
- 01 xe ôtô, loại xe khách giường nằm, nhãn hiệu THACO, màu sơn xanh trắng BKS 15B-021.xx; 01 chứng nhận đăng ký xe ôtô số 0232xx, 01 chứng nhận kiểm định số 14750xx, 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe ô tô và giấy chứng nhận bảo hiểm tự nguyện đều của xe ô tô BKS 15B-021.xx; 01 lệnh vận chuyển dùng cho xe ôtô vận chuyển hành khách tuyến cố định đều của Công ty TNHH SM; 01 giấy phép lái xe ôtô hạng E số 3101220024xx mang tên Trần Thành X.
- 01 xe ôtô tải có mui, màu sơn trắng, nhãn hiệu: HYUNDAI BKS 88C-078.xx; 01 chứng nhận đăng ký xe ôtô số 0103xx, 01 giấy chứng nhận kiểm định số 35068xx đều của xe ôtô BKS 88C-078.xx; 01 giấy phép lái xe hạng C số 0801650049xx mang tên Nguyễn Văn H.
Quá trình tham gia tố tụng, H khai nhận điều khiển xe ô tô tham gia giao thông đã không chấp hành đúng quy định khi tham gia giao thông đường bộ, quay đầu xe trên đường cao tốc khi không được phép quay đầu xe, là nguyên nhân trực tiếp gây ra tai nạn giao thông với xe ô tô khách đi phía sau, hậu quả làm cho 05 người ngồi trên xe bị thương với tổng tỷ lệ tổn thương trên cơ thể là 60% và hai xe ô tô bị hư hỏng với tổng giá trị thiệt hại 235.422.900 đồng. Hành vi của bị cáo đã vi phạm khoản 4 Điều 15 Luật giao thông đường bộ.
Bản cáo trạng số 68/CT-VKS-TP ngày 08/8/2023 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Y đã truy tố Nguyễn Văn H về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ ” theo quy định điểm d khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.
- Về hình phạt: Áp dụng điểm d khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H từ 01 năm đến 1 năm 6 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách từ 02 năm đến 03 năm kể từ ngày tuyên án,; Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã nhận bồi thường, không ai có yêu cầu gì, nên không đề nghị xem xét.
- Về vật chứng, án phí và quyền kháng cáo: Giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, không có ý kiến tranh luận, đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Thành phố Y, tỉnh Yên Bái, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Y, tỉnh Yên Bái, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp với quy định của pháp luật.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận đã thực hiện hành vi như cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, lời khai của các bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu đã được thu thập trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 11 giờ 00 phút ngày 11/4/2023, Nguyễn Văn H điều khiển xe ôtô, biển kiểm soát 88C-078.18 đang tham gia giao thông trên đường cao tốc Nội Bài - Lào Cai theo hướng đi Lào Cai, nhưng do muốn điều khiển xe về thành phố H Nội nên khi đi đến khu vực Km123 thấy đoạn đường phía trước hết dải phân cách cứng giữa hai chiều đường, H đã điều khiển xe ô tô quay đầu trên đường cao tốc để chuyển hướng đi theo chiều về Nội Bài, khi phần đầu xe của H di chuyển đến phần đầu của dải phân cách cứng thì xe ôtô khách biển kiểm soát 15B-021.93 do anh Trần Thành Xoạn đang điều khiển đi phía sau đâm vào phần giữa thùng xe bên trái do H điều khiển. Hậu quả làm cho 05 người ngồi trên xe ô tô khách bị thương với tổng tỷ lệ tổn thương trên cơ thể 05 người là 60% và cả 2 xe ô tô đều bị hư hỏng với tổng giá trị thiệt hại 235.422.900 đồng. Hành vi của bị cáo đã vi phạm khoản 4 Điều 15 Luật giao thông đường bộ. Do đó, hành vi của Nguyễn Văn H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Y truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
Hành vi vi phạm của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, có giấy phép lái xe hạng hạng C, bị cáo biết ôtô tải là nguồn nguy hiểm cao độ, đang di chuyển trên đường cao tốc nhưng bị cáo đã không tuân thủ các quy định của pháp luật về tham gia giao thông đường bộ đã quay đầu xe trên đường cao tốc và hậu quả đã gây thiệt hại về sức khỏe cho 05 người ngồi trên xe ô tô khách với tổng tỷ lệ tổn thương trên cơ thể là 60% và hai xe ô tô bị hư hỏng với tổng giá trị thiệt hại 235.422.900 đồng. Hành vi của bị cáo đã gây tổn hại đến sức khỏe của nhiều người và gây thiệt hại về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, đã xâm phạm đến trật tự an toàn công cộng. Vì vậy việc đưa bị cáo ra xét xử trước pháp luật nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung là cần thiết.
Bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự; quá trình tham gia tố tụng bị cáo thành khẩn khai báo; bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại về tài sản cho những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và bồi thường thiệt hại cho các bị hại; các bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự được áp dụng để xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Bị cáo không có tiền án, tiền sự, được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú cụ thể, ổn định, rõ ràng. Căn cứ quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15-5-2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì bị cáo có đủ điều kiện để được hưởng án treo. Do đó, không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, áp dụng hình phạt tù cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách cho bị cáo cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo, tạo điều kiện cho bị cáo tự cải tạo và khắc phục hậu quả, đồng thời thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và các bị hại đã tự nguyện thỏa thuận và thực hiện xong mức bồi thường, không ai có yêu cầu đề nghị gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với chiếc xe ô tô biển kiểm soát 88C-078.xx của anh Nguyễn Ngọc X thuê H điều khiển đã bị hư hỏng với giá trị thiệt hại là 6.000.000 đồng, anh X không có yêu cầu đề nghị gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với chiếc xe ô tô biển kiểm soát 15B-021.xx của Công ty TNHH SM do anh Trần Thành X điều khiển đã bị hư hỏng với giá trị thiệt hại là 229.422.900 đồng. Bị cáo và người đại diện của Công ty TNHH SM đã tự thỏa thuận, thống nhất thực hiện xong mức bồi thường, Công ty TNHH SM không có yêu cầu đề nghị gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với hành vi của Trần Thành X là người đã điều khiển xe ôtô khách, biển kiểm soát số: 15B-021.xx đi trên đường cao tốc theo hướng Nội Bài đến tỉnh Lào Cai. Khi đi đến khu vực km123, đường cao tốc Nội Bài - Lào Cai do không giữ khoảng cách an toàn đối với xe chạy liền trước nên đã xảy ra va chạm với xe ôtô tải do bị cáo H đang điều khiển dẫn đến tai nạn xảy ra. Hành vi của anh Xoạn không phải là nguyên nhân và lỗi trực tiếp dẫn đến vụ tai nạn giao thông trên, do đó không đề cập đến việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Trần Thành Xoạn. Tuy nhiên, hành vi của Trần Thành X là “không giữ khoảng cách an toàn giữa hai xe theo quy định gây tai nạn giao thông” đã vi phạm quy định tham gia giao thông đường bộ tại điểm a khoản 7 Điều 5 Nghị định 100/2019/NĐ-CP ngày 30 tháng 12 năm 2019 của Chính phủ. Do hành vi vi phạm của Trần Thành Xoạn không thuộc thẩm quyền xử phạt của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an Thành phố Y mà thuộc thẩm quyền xử phạt của Cục Cảnh sát giao thông - Bộ Công an. Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an Thành phố Y đã gửi tài liệu có liên quan và đề nghị Cục Cảnh sát giao thông - Bộ Công an xem xét xử lý hành vi vi phạm hành chính của Trần Thành X theo quy định của pháp luật là phù hợp.
Đối với anh Nguyễn Ngọc X là chủ sở hữu hợp pháp của xe ôtô tải, biển kiểm soát 88C-078.18. Quá trình điều tra xác định anh X mua chiếc xe ôtô từ anh Nguyễn Văn H, anh H mua lại chiếc xe này từ ông Phan Thanh H. Tuy nhiên, khi mua chiếc xe ôtô trên anh X không làm thủ tục đăng ký sang tên xe theo quy định tại điểm l khoản 7 Điều 30 Nghị định 100/2019/NĐ-CP ngày 30 tháng 12 năm 2019 của Chính phủ. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Y đã chuyển hồ sơ tài liệu có liên quan cho Đội Cảnh sát giao thông, trật tự Công an Thành phố Y để xử lý theo quy định là phù hợp.
Đối với số hàng hóa trên xe ô tô BKS 88C-078.XX do H điều khiển là 800 hộp quả táo tàu khô. Quá trình điều tra xác định anh Thái là đại diện chủ hàng, đã thuê vận chuyển số hàng hóa trên về Hà Nội, anh T đã xuất trình hóa đơn chứng từ chứng minh nguồn gốc, số hàng hóa trên không liên quan đến hành vi phạm tội nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Thành phố Y đã trả lại cho anh T là phù hợp.
Về vật chứng:
- Đối với xe ôtô, loại xe khách giường nằm, nhãn hiệu THACO, màu sơn xanh trắng BKS 15B-021.xx; 01 chứng nhận đăng ký xe ôtô số 0232xx, 01 chứng nhận kiểm định số 14750xx, 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe ô tô và giấy chứng nhận bảo hiểm tự nguyện đều của xe ô tô BKS 15B-021.xx; 01 lệnh vận chuyển dùng cho xe ôtô vận chuyển hành khách tuyến cố định đều của Công ty TNHH SM là tài sản, đồ vật, tài liệu thuộc quyền sở hữu hợp pháp của Công ty, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Thành phố Y đã trả lại cho người đại diện hợp pháp cho Công ty TNHH SMlà phù hợp.
- Đối với xe ôtô tải có mui, màu sơn trắng, nhãn hiệu: HYUNDAI BKS 88C-078.xx, 01 giấy chứng nhận kiểm định số 35068xx đều của xe ôtô BKS 88C-078.XX là tài sản hợp pháp của anh Nguyễn Ngọc X. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Thành phố Y đã trả lại cho anh X là phù hợp.
- Đối với chứng nhận đăng ký xe ôtô số 0103xx, biển số đăng ký 88C-078.xx mang tên chủ xe là Phan Thanh H, tuy nhiên, chiếc xe ô tô này hiện vẫn chưa làm thủ tục đăng ký sang tên xe khi mua theo quy định. Do đó, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Thành phố Y đã bàn giao Giấy chứng nhận đăng ký xe nêu trên kèm theo các tài liệu có liên quan cho Đội Cảnh sát giao thông, trật tự Công an Thành phố Y để xử lý theo quy định là phù hợp.
- Đối với giấy phép lái xe ôtô hạng E số 3101220024xx mang tên Trần Thành X, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Thành phố Y đã bàn giao cho Đội tuần tra kiểm soát giao thông đường bộ cao tốc số 1, phòng 8, Cục cảnh sát Giao thông – Bộ Công an để xử lý cùng hành vi vi phạm hành chính của ông X là phù hợp
- Đối với giấy phép lái xe hạng C số số 080165004xxx mang tên Nguyễn Văn H, cấp ngày 26/8/2019, có giá trị đến ngày 26/8/2024, trả lại cho bị cáo.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
2. Về hình phạt: Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 - Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo; Thời gian thử thách là 02 (hai) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 12-9-2023).
Giao bị cáo Nguyễn Văn H cho Ủy ban nhân dân xã S, huyện D, tỉnh Tuyên Quang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã được hưởng án treo.
3. Về vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Trả cho bị cáo Nguyễn Văn H 01 giấy phép lái xe hạng C số 080165004961 do Sở Giao thông Vận tải tỉnh Vĩnh Phúc cấp ngày 26 tháng 8 năm 2019 mang tên Nguyễn Văn H (Tại biên bản giao nhận ngày 11/9/2023 giữa Tòa án và Chi cục Thi hành án dân sự Thành phố Y).
4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Nguyễn Văn H phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng Hình sự. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo bản án; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thòi hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Khi bản án có hiệu lực pháp luật, bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Yên Bái;
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
- VKSND tỉnh Yên Bái.
- Sở tư pháp tỉnh Yên Bái.
- VKSND TP Yên Bái;
- Công an Thành phố Y;
(đã ký)
- HSNV Công an TP Yên Bái;
- Chi cục THADS TP Yên Bái.
- Bị cáo; Bị hại;
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan;
Lê Thị Hoàng Hải
- Lưu hồ sơ vụ án, TA, THA. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Yên Bái; - VKSND tỉnh Yên Bái. - Sở tư pháp tỉnh Yên Bái. - VKSND TP Yên Bái; - Công an Thành phố Y; - HSNV Công an TP Yên Bái; - Chi cục THADS TP Yên Bái. - Bị cáo; - Bị hại; - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; - Lưu hồ sơ vụ án, TA, THA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Lê Thị Hoàng Hải |